Thứ năm, ngày 4 tháng 3 năm 2021
Địa chỉ: 73 Quốc lộ 9 - TP Đông Hà - Quảng Trị * Điện thoại: (053) 3852570 - Fax: 053 3850432 * Email: sgtvt@quangtri.gov.vn
GTVT Quảng Trị phục vụ cuộc kháng chiến chống mỹ cứu nước(1954-1975)
Cập nhật 03/06/2014 Lượt xem 4549

Ngày 20/7/1954, cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và can thiệp Mỹ xâm lược kết thúc thắng lợi, thực dân Pháp buộc phải ký Hiệp định Giơnevơ. Thực hiện Hiệp định Giơnevơ, nước Việt Nam tạm thời chia làm hai miền, Quảng Trị nằm trên vĩ tuyến 17 chia làm hai khu vực: khu vực ở bờ bắc sông Bến Hải gồm đại bộ phận của huyện Vĩnh Linh (gọi là khu vực Vĩnh Linh) được hoàn toàn giải phóng

Ngày 20/7/1954, cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và can thiệp Mỹ xâm lược kết thúc thắng lợi, thực dân Pháp buộc phải ký Hiệp định Giơnevơ. Thực hiện Hiệp định Giơnevơ, nước Việt Nam tạm thời chia làm hai miền, Quảng Trị nằm trên vĩ tuyến 17 chia làm hai khu vực: khu vực ở bờ bắc sông Bến Hải gồm đại bộ phận của huyện Vĩnh Linh (gọi là khu vực Vĩnh Linh) được hoàn toàn giải phóng, cùng với các tỉnh, thành phố của miền Bắc nước Việt Nam quá độ lên chủ nghĩa xã hội; khu vực ở bờ nam sông Bến Hải gồm có: xã Vĩnh Liêm và 1/3 xã Vĩnh Sơn (của huyện Vĩnh Linh), các huyện: Gio Linh, Cam Lộ, Hướng Hoá, Triệu Phong, thị xã Quảng Trị (tỉnh lỵ) và Hải Lăng gọi là tỉnh Quảng Trị cùng với các tỉnh, thành phố của miền Nam nước Việt Nam trở thành nơi tập trung của quân Pháp, thuộc quyền kiểm soát của đối phương...

          Ngay sau khi Hiệp định Giơnevơ có hiệu lực, Quảng Trị như hình ảnh của nước Việt Nam thu nhỏ, hai đơn vị hành chính là: Quảng Trị, khu vực Vĩnh Linh, với hai chế độ khác nhau, trong cùng một lúc phải đồng thời tiến hành hai cuộc cách mạng: cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân và cách mạng xã hội chủ nghĩa.

            A. KHU VỰC VĨNH LINH 

          Triển khai Nghị quyết Hội nghị cán bộ toàn tỉnh (21/7/1954), dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo của Huyện uỷ, Uỷ ban Kháng chiến hành chính huyện, được sự hướng dẫn của Bộ Giao thông công chính, Phòng Giao thông vận tải huyện Vĩnh Linh được thành lập, trực thuộc Ty Giao thông vận tải huyện Quảng Bình do đồng chí Lê Hy làm Trưởng phòng, đồng chí Hoàng Công Thiêm làm Phó phòng.

          Hoạt động của Phòng Giao thông vận tải Vĩnh Linh lúc này đã góp phần cùng với các ngành tổ chức việc tiếp thu, tiếp quản vùng mới giải phóng ngay sau khi thực dân Pháp rút khỏi mảnh đất Vĩnh Luinh vào lúc 14 giờ ngày 25/8/1954. Các cơ quan của huyện từ chiến khu và các vùng di chuyển về trung tâm huyện. Nhân dân ở đồng bằng trước đây sơ tán lên phía tây huyện nay trở về với quê hương thôn xóm của mình...

          Hoà bình được lập lại, nhân dân Vĩnh Linh phải xây dựng quê hương trong hoàn cảnh vô cùng khó khăn, nền kinh tế lạc hậu, lại phải chịu hậu quả của 15 năm chiến tranh tàn phá, hệ thống giao thông vận tải đều bị phá hoại nghiêm trọng...

          Ngày 02/9/1954, gần 3 vạn nhân dân, cán bộ, chiến sĩ huyện Vĩnh Linh dự cuộc mít tinh lớn tại sân vận động Trạng Cù để kỷ niệm ngày Cách mạng tháng Tám và Quốc khánh 2/9, mừng quê hương được giải phóng và đón nhận nhiệm vụ của giai đoạn cách mạng mới như: khẩn trương ổn định nơi ăn ở, đưa mọi hoạt động của Đảng bộ và nhân dân trở lại bình thường, chống âm mưu thâm độc của địch (như chúng ra sức dụ dỗ, lừa gạt, cưỡng ép đồng bào, nhất là giáo dân di cư vào Nam); đồng thời tổ chức tốt việc đón tiếp hàng vạn cán bộ, chiến sĩ và đồng bào miền Nam ra tập kết tại quê hương hoặc đang trên đường ra các tỉnh phía Bắc...

          Qua thực tế tình hình diễn biến từ cuối 1954, đầu 1955, khu vực Vĩnh Linh đã trở thành vị trí đặc biệt, là tiền đồn của miền Bắc xã hội chủ nghĩa, là nơi trực tiếp đấu tranh với địch để bảo vệ khu phi quân sự, bảo vệ pháp lý Hiệp định Giơnevơ... Ngày 25/5/1955, Trung ương Đảng ra Nghị quyết số 16/NQ-TW thành lập Đảng uỷ khu vực gồm 3 đồng chí, do đồng chí Lê Thanh Liêm, nguyên uỷ viên Thường vụ Tỉnh uỷ Quảng Trị, làm Bí thư Khu uỷ. Với nhiệm vụ của Đảng bộ khu vực Vĩnh Linh là “Ra sức củng cố, xây dựng khu vực Vĩnh Linh về mọi mặt chính trị, quân sự, kinh tế, văn hoá xã hội; kiên quyết đấu tranh buộc địch phải thi hành Hiệp định Giơnevơ, bảo vệ quy chế khu phi quân sự, bảo vệ an toàn đời sống của nhân dân, thực hiện chính sách quan hệ hai miền Bắc - Nam của Đảng và Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hoà”. Ngày 16/6/1955, Chính phủ ra Nghị định số 551/TTg thành lập Đặc khu Vĩnh Linh: “Khu vực Vĩnh Linh thuộc tỉnh Quảng Trị từ nay được tổ chức thành một đơn vị hành chính riêng, ngang với một tỉnh, dưới sự chỉ đạo của Chính phủ Trung ương”. Thực hiện Nghị định đó, Uỷ ban Hành chính khu vực Vĩnh Linh được thành lập, do đồng chí Hoàng Đức Sản làm Chủ tịch.

          Dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng uỷ và Uỷ ban Hành chính khu vực, được sự giúp đỡ của các ban, ngành ở Trung ương, từ tháng 7/1955, các ban của Đảng uỷ khu vực, các Phòng, Ty chuyên môn, các đoàn thể nhân dân của khu vực được thành lập với chức năng nhiệm vụ ngang như cấp tỉnh. Phòng Giao thông vận tải khu vực Vĩnh Linh trực thuộc đặc khu Vĩnh Linh và chị lãnh đạo, chỉ đạo chuyên môn nghiệp vụ của Bộ Giao thông vận tải và Bưu điện1.

            I. GIAO THÔNG VẬN TẢI KHU VỰC VĨNH LINH PHỤC VỤ NHIỆM VỤ KHÔI PHỤC, PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI (1954 - 1964)

          Nghị quyết của Bộ Chính trị Trung ương Đảng Lao động Việt Nam tháng 9 năm 1954 nêu rõ: “Khôi phục nhanh chóng đường xe lửa, đường ôtô, vận tải sông ngòi có ý nghĩa quan trọng bậc nhất. Đó là điều không thể thiếu được trong việc phát triển sản xuất, phồn vinh kinh tế, làm cho giao lưu hàng hoá giữa thành thị và nông thôn hoạt động”.

          Nhận thức được vai trò quan trọng của ngành Giao thông vận tải trong nền kinh tế quốc dân, đặc biệt là trong thời kỳ khôi phục, phát triển kinh tế - xã hội sau chiến tranh, cán bộ công nhân viên chức phòng Giao thông vận tải khu vực Vĩnh Linh đã dốc lòng, dốc sức góp phần cùng toàn dân trong khu vực thực hiện các nhiệm vụ trên mặt trận giao thông vận tải. Trước hết là tập trung lực lượng phối hợp với Ty Giao thông Quảng Bình sửa chữa, khôi phục tuyến quốc lộ 1A đoạn từ bắc cầu Hiền Lương đến nam Quán Hàu. Mở rộng con đường từ Tân Ấp đi xóm Cục - Panaphàn (Lào). Đồng thời dựa vào các địa phương, cùng với địa phương xã, thôn huy động lực lượng nhân dân tu bổ các đường liên xã, liên thôn, làm mới các tuyến đường ở khu vực Hồ Xá, hệ thống ven biển được tổ chức triển khai. Giao thông được khôi phục phát triển đã góp phần tăng nhanh các loại phương tiện vận tải, nhất là bằng thuyền bè trên sông, biển đồng thời tổ chức các luồng ôtô liên tỉnh, kịp thời phục vụ sản xuất, dân sinh, quốc phòng, an ninh...

          Tranh thủ thời gian Hiệp định đình chiến có hiệu lực, Phòng Giao thông vận tải đã tổ chức và quản lý 3 cửa khẩu dọc theo giới tuyến quân sự tạm thời là: Thủy Bam Hiền Lương, Mũi Si, tạo điều kiện thuận lợi cho đồng bào ta ở hai miền Bắc - Nam sông Bến Hải qua lại thăm viếng, buôn bán... Kết quả, có ngày trên 300 người qua lại các cửa khẩu, có tháng đồng bào miền Nam ra miền Bắc trên 5.000 người, đồng bào miền Bắc vào miền Nam trên 3.000 người. Quan hệ kinh tế đôi bờ sông Bến Hải phát triển như giúp nhau cày ruộng, giống má, trâu bò1.

          Trên cơ sở duy trì được mối quan hệ bình thường giữa hai miền, được sự hướng dẫn hỗ trợ của Bộ Giao thông vận tải và Bưu điện, Phòng Giao thông vận tải đã tổ chức hệ thống giao thông liên lạc hợp pháp, bất hợp pháp để đưa cán bộ, đồng bào miền Nam ra miền Bắc, miền Bắc vào miền Nam hoạt động, xây dựng cơ sở cách mạng, trước hết là ở địa bàn các huyện Gio Linh, Cam Lộ...

          Biết tin Bác Hồ sẽ vào thăm Quảng Bình - Vĩnh Linh vào sáng ngày 16/6/1957, chấp hành quyết định của Đảng uỷ khu vực mà trực tiếp là đồng chí Hồ Sĩ Thản - Bí thư, đồng chí Phan Du phụ trách đường dây liên lạc với Trị - Thiên đã cử cán bộ giao thông hoả tốc vào miền tây Gio Linh đưa thư mời đồng chí Nguyễn Đức Dũng - Bí thư Đảng bộ huyện Gio Linh ra Vĩnh Linh ngay trong đêm 15/6/1957 để kịp ra Quảng Bình gặp Bác Hồ.

          Cuộc đón tiếp Bắc Hồ được tổ chức long trọng tại Hội trường Tỉnh uỷ Quảng Bình (tại Đồng Hới). Nói chuyện với trên 2.000 đại biểu đại diện cho Đảng bộ và nhân dân Quảng Bình, Vĩnh Linh - Quảng Trị có mặt hôm đó, Bác Hồ căn dặn: “Quảng Bình cùng với Vĩnh Linh ở tuyến đầu miền Bắc, tiếp giáo với miền Nam, mọi việc làm tốt hay xấu ở đây đều ảnh hưởng nhất định đến miền Nam, đều có ý nghĩa đến việc bảo vệ miền Bắc. Nếu kẻ địch có hành động liều lĩnh thì Vĩnh Linh, Quảng Bình phải đương đầu với chúng trước hết và phải bảo đảm đánh thắng chúng trước hết”.

          Lời căn dặn của Bác Hồ một lần nữa khẳng định vị trí quan trọng của Vĩnh Linh - Quảng Bình. Lời căn dặn đó của Bác Hồ là kim chỉ nam cho mọi suy nghĩ và hành động của Đảng bộ và nhân dân khu vực Vĩnh Linh trong thời kỳ chống Mỹ, cứu nước.

          Sau hàng chục lần đưa quân lấn chiếm đất đia vùng Hướng Lập bị thất bại, cuối năm 1958, Mỹ - Diệm phối hợp với bọn phản động của Vương quốc Lào lấn chiếm Tà Rìn, đóng các đồn: Ra Mại, Vàng Rớ, A Ròng, Chong Tức, Pa Lăng Tây, Rà Cồ... Chúng đã gây khó khăn cho ta, ngăn cản việc vận chuyển tiếp tế lương thực, thực phẩm, đạn dược từ đồng bằng lên miền núi cung cấp cho các lực lượng vũ trang của ta đang làm nhiệm vụ canh phòng biên giới ở Hướng Lập - Hướng Hoá.

          Trước tình hình đó, Quân khu uỷ khu IV đã bàn với Tỉnh uỷ Quảng Bình tìm mọi cách giúp đỡ khu vực Vĩnh Linh kịp thời khắc phục khó khăn đột xuất do Mỹ và bè lũ tay sai gây ra. Kết quả tỉnh Quảng Bình đã huy động hơn 3.000 dân công của hai huyện: Lệ Thuỷ, Quảng Ninh vượt suối, băng rừng không kể ngày đêm vặn chuyển 60 tấn lương thực, thực phẩm lên Hướng Lập. Từ đó, lực lượng vũ trang của ta ở Hướng Lập vượt qua được nạn đói thiếu, tiếp tục nhiệm vụ.

          Thời gian từ năm 1955 đến năm 1959, Phòng Giao thông vận tải Vĩnh Linh đã mở được một số tuyến giao thông sau:

          - Tuyến Đông Trường Sơn từ Bà Hà - Vĩnh Linh vào đường 9 - Cam Lộ do đồng chí Phan Du (Đảng uỷ viên Đảng uỷ khu vực Lĩnh Linh) phụ trách cùng với một số cán bộ giao thông liên lạc (nguyên trước đây là cán bộ giao bưu thời chống Pháp) đạp núi, băng rừng nhằm hướng phía nam xoi đường giữa rừng cây, lau lách rậm rạp... Để giữ bí mật, tuyến đường này xa các bản làng. Các trạm để cho khách qua lại nghỉ ngơi trong đêm phải đóng giữa rừng già. Tuyến của đồng chí Phan Du ở bắc đường 9, bắt liên lạc với tuyến phía nam đường 9 do đồng chí Lê Hành (nguyên là Bí thư Đảng bộ huyện Hướng Hoá) phụ trách...

          - Tuyến đường biển từ Tùng Luật vào Cửa Việt, cửa Thuận An... do đồng chí Thê phụ trách. Cán bộ, nhân viên giao thông vận tải liên lạc hoạt động trên tuyến này đóng vai ngư dân Vĩnh Linh đi đánh cá trên biển. Thời kỳ đầu vượt biển với nhiệm vụ đưa đón cán bộ trong nam (Trị - Thiên, khu V) ra họp, học tập, chữa bệnh hoặc cán bộ từ miền Bắc vào tăng cường cho miền Nam... Về sau, tuyến đường biển này làm nhiệm vụ chủ yếu là vận chuyển súng đạn (loại nhẹ) và nhu yếu phẩm cung cấp cho chiến trường Trị - Thiên và một số tỉnh ở khu V...

          Về lực lượng vận tải: qua cải tạo vận tải tư nhân, năm 1957, khu vực Vĩnh Linh thành lập Xí nghiệp Công tư hợp doanh vận tải ôtô.

          Đầu năm 1959, Xí nghiệp Công tư hợp doanh vận tải ôtô chuyển thàn Xí nghiệp Quốc doanh vận tải ôtô có 33 xe do đồng chí Lê Xảo làm Giám đốc. Xí nghiệp vận tải Quốc doanh ra đời đã đảm nhận những khối lượng vận tải chủ yếu, phục vụ khôi phục, phát triển kinh tế khu vực Vĩnh Linh.

          Đầu năm 1961, thực hiện chủ trương của Đảng uỷ khu vực, Phòng Giao thông vận tải khu vực Vĩnh Linh đã tổ chức cho toàn thể cán bộ công nhân viên trong ngành học tập, nghiên cứu các văn kiện của Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III của Đảng lao động Việt Nam.

          Bước vào kế hoạch 5 năm lần thứ nhất (1961 - 1965) Bác Hồ rất quan tâm đến nông dân và các hợp tác xã nông nghiệp, về giao thông vận tải nông thôn, Bác nhận xét và chỉ rõ: “... Đường sá còn rất kém. Cố nhiên đắp đường lớn là do Trung ương phụ trách, Bộ Giao thông chịu trách nhiệm. Nhưng địa phương có thể làm những đường nhỏ từ làng này qua làng khác, thì xã tự động làm. Nhiều xã đã làm tốt, nên làm cho đồng bào thấy rõ lợi ích của việc làm thêm đường sa, tuyên truyền giải thích cho khéo thì đồng bào tự làm và làm tốt”1.

          Thực hiện chỉ thị của Trung ương Đảng về vấn đề phát triển mạng lưới giao thông vận tải nông thôn, Bộ Giao thông vận tải mở Hội nghị chuyên đề về công tác giao thông vận tải nông thon (1961).

          Được tin đó, Bác Hồ đã gửi thư cho Hội nghị: “Được tin các cô, các chú họp hội nghị tổng kết công tác làm giao thông vận tải nông thôn, miền núi. Nhân dịp này Bác nhắc một số điểm để các cô các chú lưu ý.

          Mấy năm qua, các địa phương đều có cố gắng sửa chữa thêm được nhiều đường sá, đóng thêm nhiều xe và thuyền. Như vậy là khá! Nhưng so với yêu cầu nông nghiệp trong kế hoạch 5 năm thì số đường sá xe thuyền còn quá ít.

          Cho đến nay, làm đường chưa chú ý phục vụ cho sản xuất, chưa kết hợp chặt chẽ giao thông với thuỷ lợi.

          Để hoàn thành tốt kế hoạch 5 năm chúng ta phải cố gắng hơn nữa, làm tốt hơn nữa.

          - Phải lấy phục vụ sản xuất là chủ yếu.

          - Phải biết dựa vào dân là chính.

          - Các Cấp uỷ (tỉnh, huyện, xã) phải quan tâm đúng mức, chỉ đạo chặt chẽ, không được khoán trắng cho cán bộ chuyên môn.

          ... Bác gởi đến Hội nghị một lá cờ luân lưu hàng năm để tặng cho tỉnh nào làm giao thông vận tải nông thôn khá nhất”2.

          Sau cuộc hội nghị có tính lịch sử nói trên, phong trào thi đua làm giao thông nông thôn dấy lên mạnh mẽ khắp miền Bắc Việt Nam. Ở khu vực Vĩnh Linh, Uỷ ban Hành chính phu vực chủ trương huy động cùng một lúc 2.000 dân công nghĩa vụ làm đường.

          Phòng GTVT khu vực sử dụng lực lượng đó, đồng thời dựa vào lực lượng tại chỗ của các thôn, bản khẩn trương thi công các tuyến đường:

          - Từ ga Sa Lung đi Cầu Điện - Bao Đài.

          - Từ Khe Bến Than đi Cù Bạc

          - Từ Bên Quan đi Bãi Gỗ.

          - Từ quốc lộ 1A đi Bến Than, con đường này nối với con đường 70 đi Cửa Tùng, chạy song song với con đường do Mỹ - nguỵ mới mở ở bờ nam sông Bến Hải.

          Đầu năm 1964, thực hiện chủ trương của Bộ, Phòng GTVT khu vực Vĩnh Linh được chuyển thành Ty Kiến Trúc - Giao thông khu vực Vĩnh Linh do đồng chí Trần Trọng Ban làm Trưởng Ty và đồng chí Hoàng Công Thiêm làm Phó Trưởng Ty.

          Ty Kiến trúc - Giao thông khu vực chủ trương lợi dụng nền đường sắt cũ, đắp thành đường ôtô. Xây dựng bến Phà Sa Lung; mở rộng con đường từ Hồ Xá đi phà Phúc Lâm. Con đường Hồ Xá - Phúc Lâm chia thành 2 nhánh: một nhánh lên Thuỷ Ba Hạ (Vĩnh thuỷ); một nhánh đi qua phà Tiên An, giáo đường bờ sông (Vĩnh Sơn). Đồng thời mở thêm con đường xuất phát từ quốc lộ 1A (thị trấn Hồ Xá) đi Vĩnh Thái; tu sửa hệ thống đường sá sẵn có ở phía đông của khu vực Vĩnh Linh.

          Các tuyến đường mới được xây dựng, đã hình thành mạng lưới giao thông liên hoàn từ phía đông lên phía Tây, từ phía Bắc (ranh giới Vĩnh Linh - Quảng Bình) đến phía Nam của khu vực (bờ Bắc sông Bến Hải) tạo điều kiện thuận lợi cho mọi hoạt động của ngành vận tải khu vực Vĩnh Linh trong việc chi viện sức người sức của cho tiền tuyến lớn miền Nam.

          Về vận tải đường biển, để làm nhiệm vụ tiếp tế cho đảo Cồn Cỏ, khu vực Vĩnh Linh đã thành lập Hợp tác xã Vận tải đường biển Xuân Tùng. Mỗi chuyến ra đảo có một đội ngũ gồm 5 - 6 chiếc thuyền chèo tay, mỗi chiếc có trọng tải khoảng 6 - 7 tấn gồm nước uống, lương thực, thực phẩm, nguyên vật liệu xây dựng...

          Từ năm 1965, ngoài nước uống, lương thực, Hợp tác xã Vận tải đường biển Xuân Tùng còn làm nhiệm vụ đưa đón bộ đội, thương binh, vũ khí đạn dược cho đảo Cồn Cỏ và dành riêng một tổ thuyền (2-3 chiếc) chuyên làm nhiệm vụ đưa bộ đội từ miền Bắc vào miền Nam.

          Với khối lượng công việc lớn hơn trước rất nhiều nên Hợp tác xã Vận tải đường biển Xuân Tùng được quyền điều động (theo Quyết định của Uỷ ban Hành chính khu vực Vĩnh Linh) toàn bộ thuyền chèo bằng tay (kể cả lực lượng thuỷ thủ) của các xã Vĩnh Quang, Vĩnh Thạch, Vĩnh Giang. Vừa làm nhiệm vụ vận chuyển, vừa làm nhiệm vụ chiến đấu (khi gặp địch), nên việc trang bị vũ khí cho mỗi thuyền của hợp tác xã được tăng cường. Trước đây mỗi thuyền được trang bị hai khẳu AK, nay được trang bị bốn khẩu AK, một trung liên và một khẩu B40.

          Tháng 3/1964, Tổng thống Mỹ Giôn Xơn phê chuẩn kế hoạch Dêxôtô dùng tàu khu trực Mỹ tuần tiễu ở vịnh Bắc Bộ để ngăn chặn tiếp tế đường biển của ta, đồng thời viện trợ cho hoạt động của các tàu biệt kích nguỵ vây bắt nhân dân ta đánh cá ngoài biển để khai thác tin tức.

          Trước tình hình đó, ngày 27/3/1964, tại Hội nghị chính trị đặc biệt, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định quyết tâm của toàn Đảng, toàn quân và toàn dân ta: “Nếu đế quốc Mỹ liều lĩnh động đến miền Bắc thì nhất định chúng sẽ thất bại thảm hại. Vì nhân dân cả nước ta sẽ kiên quyết đánh bại chúng. Vì các nước xã hội chủ và nhân dân tiến bộ toàn thế giới sẽ hết sức ủng hộ ta. Vì nhân dân tiến bộ Mỹ và các nước đồng minh của Mỹ cũng sẽ phản đối”1

          Mùa hè 1964, những hoạt động khiêu khích, phá hoại miền Bắc của Mỹ - Nguỵ diễn ra liên tục. Chúng ráo riết chuẩn bị để đánh phá quy mô lớn miền Bắc nước ta. Biên đội tàu sân bay Kittihốc mang tên lửa có đầu đạn hạt nhân được điều đến biển Đông. Một số phi đội máy bay ném bom chuyển từ các căn cứ của Mỹ ở Nhật Bản xuống các nước Đông Nam Á. Ngày 31/7/1964, tàu khu trục Mađốc của Mỹ vào khu vực phía Nam đảo Cồn Cỏ (Vĩnh Linh) bắt đầu “hải trình” do thám, uy hiếp bờ biển của ta.

          Tất cả những hoạt động của Mỹ đều chuẩn bị cho việc gây ra cuộc chiến tranh phá hoại miền Bắc, hòng ngăn chặn sự chi viện sức người, sức của của miền Bắc cho miền Nam.

          Về phía ta, phương thức vận tải bằng các phương tiện thô sơ của Đoàn 559 không đủ sức đáp ứng cuộc chiến đấu quy mô ngày càng lớn ở miền Nam... Đầu năm 1964, Đoàn 559 tập trung lực lượng, phương tiện mở đường vận tải cơ giới từ tây khu vực Vĩnh Linh vượt vượt qua đường 9 vào đến Tà Xẻng. Đường giao liên cũng được tổ chức lại với những cung, những chặng đường thích hợp đi song song với đường vận tải bảo đảm cung cấp lương thực và các nhu cầu cần thiết cho bộ đội hành quân vào miền Nam...

          Sau hàng loạt hành động khiêu khích phá hoại có hệ thống và sau khi dựng lên “Sự kiện vịnh Bắc Bộ” đánh lừa dư luận nhân dân thế giới và dư luậ nước Mỹ, ngày 05/8/1964, đế quốc Mỹ chính thức dùng không quân đánh phá miền Bắc, mở đầu cuộc chiến tranh phá hoại bằng không quân và hải quân với quy mô lớn đối với miền Bắc nước ta. Ngày 08/8/1964, máy bay Mỹ bắn phá đảo Cồn Cỏ...

          Trong tình hình cả nước có chiến tranh, kế hoạch 5 năm (1961 - 1965) mới thực hiện được 4 năm phải dừng lại và bước vào giai đoạn cách mạng mới. Nhìn lại chặng đường 10 năm (1954 - 1964), Đảng bộ và nhân dân khu vực Vĩnh Linh đã khắc phục được nhiều khó khăn do hậu quả chiến tranh, do nền kinh tế quá nghèo nàn lạc hậu, do thiên tai, do âm mưu của địch ở bên kia giới tuyền thường xuyên khiêu khích phá hoại, đã tiến lên từng bước vững chắc. Trong đó mạng lưới giao thông vận tải do nhân dân tự làm là chủ yếu, đã nối liền các xã với thị trấn, từ hợp tác xã ra tận đồng ruộng, thuận tiện cho việc vận chuyển phục vụ sản xuất và chiến đấu1.

            II. GIAO THÔNG VẬN TẢI KHU VỰC VĨNH LINH PHỤC VỤ CUỘC KHÁNG CHIẾN CHỐNG CHIẾN TRANH PHÁ HOẠI MIỀN BẮC CỦA ĐẾ QUỐC MỸ VÀ CHI VIỆN CHO CUỘC CHIẾN ĐẤU GIẢI PHÓNG MIỀN NAM (1964 - 1975)

          Tháng 6/1964, Bộ Chính trị Trung ương Đảng ra chỉ thị: “Tăng cường sẵn sàng chiến đấu phá tan âm mưu khiêu khích đánh phá miền Bắc của không quân địch”. Chỉ thị nêu rõ: “Các lực lượng vũ trang trên miền Bắc phải sẵn sàng chiến đấu, kiên quyết tiêu diệt địch nếu chúng xâm phạm miền Bắc, đẩy mạnh chi viện cho miền Nam”.

          Khi máy bay Mỹ bắt đầu leo thang đánh phá miền Bắc từ vĩ tuyến 20 trở vào, Nghị quyết Hội nghị lần thứ 11 của Ban chấp hành Trug ương Đảng (khoá III) chỉ rõ: “Giao thông vận tải là công tác trung tâm đột xuất số 1 có tính chiến lược của toàn Đảng, toàn quân và toàn dân ta”... “Vận tải là nhiệm vụ chính trị cao nhất”.

          Tại Hội nghị Ban Bí thư Trung ương Đảng (7/1965), đồng chí Lê Duẩn - Bí thư thứ nhất Ban chấp hành Trung ương Đảng nhấn mạnh “Dù thế nào chúng ta cũng phải có đường sá, phải vận chuyển hàng hoá. Đó là vấn đề sống còn... Bí quyết thắng lợi trong cuộc chiến đấu có khi chỉ là một con đường... phải tập trung toàn lực của Đảng bộ và của nhân dân mỗi địa phương để làm cho kỳ được”.

          Ở khu vực Vĩnh Linh, Đảng uỷ đã mở Hội nghị xác định rõ đặc điểm của khu vực Vĩnh Linh lúc này là vị trí đầu cầu, tiền tuyến của miền Bắc, hậu phương của miền Nam, nơi tập trung quân, kho tàng đạn dược của miền Bắc cho tiền tuyến lớn miền Nam mà trực tiếp là chiến trường Quảng Trị, Thừa Thiên; đồng thời nêu lên nhiệm vụ của khu vực trong tình hình mới là: “Tiếp tục xây dựng chủ nghĩa xã hội, song công tác chiến đấu, phục vụ chiến đấu, phục vụ tiền tuyến miền Nam phải được thường xuyên coi trọng”.

          Từ ngày 08/02/1965, máy bay Mỹ bắt đầu “leo thang” đánh phá miền Bắc từ vĩ tuyến 20 trở vào mà chủ yếu là đánh phá mạng lưới giao thông vận tải. Mục tiêu của Mỹ - nguỵ đặt ra đối với khu vực Vĩnh Linh trong giai đoạn đầu đánh phá là: huỷ diệt thị trấn Hồ Xá - Trung tâm chính trị, văn hoá, thành tựu 10 năm xây dựng chủ nghĩa xã hội của khu vực Vĩnh Linh; đánh chiếm đảo Cồn Cỏ1, đánh phá kho tàng của ta ở miền Tây, đường 559, đường 1 và một số trục đường chính của khu vực Vĩnh Linh nhằm cản trở giao thông, ngăn chặn sự chi viện của miền Bắc...

          Ngày 13/021/1965, sau khi soát xét lại tình hình phòng, trán, nêu gương các đơn vị, cá nhân trong các lực lượng vũ trang vừa qua đã anh dũng chiến đấu, bắn rơi máy bay địch, được Trung ương Đảng và Chính phủ khen ngợi, Bác Hồ gởi thư thăm hỏi, động viên...Hội nghị Đảng uỷ khu vực đã ra Nghị quyết: “Phải khẩn trương phân tán kho tàng lương thực, mậu dịch, bệnh viên, trường học, các cơ quan đống trên địa bàn thị trấn phải sơ tán về nông thôn. Xây dựng hầm hào để bảo vệ con người và tài sản của Nhà nước, của cán bộ, nhân dân”.

          Thực hhiện nghị quyết của Đảng, Ty Giao thông - Kiến trúc đã khẩn trương bố trí lực lượng, phân bổ cán bộ, phương tiện vận tải đến cùng với các ban, ngành trong khu vực làm việc bất kể ngày đêm nên chỉ trong một thời gian rất ngắn, hàng ngàn tấn hàng hoá, lương thực, máy móc, phương tiện làm việc đều được di chuyển từ thị trấn Hồ Xá đến các địa điểm sơ tán ở nông thôn, miền núi; đồng thời vận động, tổ chức đưa 2.900 hộ gia đình nhân dân, cán bộ, bộ đội ở thị trấn Hồ Xá dân sơ tán hết về vùng nông thôn.

          Khu vực Vĩnh Linh, Mỹ - ngụy tập trung đánh phá nhà Phúc Lâm, đồi 74 (thuộc xã Vĩnh Thuỷ), xòm Đôộng Sởi (thuộc xã Vĩnh Thạch), cầu Chấp Lễ, cầu Lèo Heo...

Trước tình hình đó, Đảng uỷ khu vực Vĩnh Linh vạch ra chủ trương và được Bộ GTVT  đồng tình ủng hộ là mở ra tuyến đường tránh quốc lộ 1A.

Đầu tháng 3/1965, Đảng uỷ khu vực bổ nhiệm đồng chí Lê Cúc (đảng uỷ viên và Uỷ ban hành chính khu vực) làm Trưởng ty Giao thông - Kiến trúc kiêm Trưởng ban Bảo đảm giao thông khu vực, thay đồng chí Trần Trọng Ban đi nhận nhiệm vụ mới. Ty Giao thông - Kiến trúc đã cho mở các tuyến đường mới:

- Tuyến từ bắc cầu Khạy vào cắt ngang tuyến Hồ Xá - Cáp Lài, giáp đường 70 ra quốc lộ 1A, đến đường bờ sông Bến Hải.

-  Tuyến từ xã Vĩnh Nam xuyên qua các xã: Vĩnh Trung, Vĩnh Tú, ra Mỹ Hội (xã Vĩnh Thái), ta sử dụng tuyến này để giấu xe, giấu kho hậu cần, đặc biệt là để bộ đội chủ lực của ta kéo pháo ra bờ biển nhằm phản pháo của hải quân Mỹ ở vùng biển Vĩnh Linh - Quảng Bình.

Ngày 08/3/1965, địch oanh kích đảo Cồn Cỏ, một quả bom Mỹ rơi trúng bể chứa nước ngọt của bộ đội ta trên đảo. Không có nước, anh em bộ đội phải chặt cây chuối rừng vắt lấy nước để uống. Bọn Mỹ - nguỵ đoán biết điều đó, một mặt chúng cho máy bay tập trung bom đạn đánh đi, đánh lại, mặt khác chúng dùng tàu chiến bao vây, bịt kín mọi lối vào ra giữa đảo và đất liền...

Trước tình hình đó, Đảng uỷ khu vực ra lời kêu gọi “Tất cả vì đảo”...và đưa ra cho Đảng bộ và nhân dân trong khu vực trao đổi, thống nhất. Từ đó, khu vực Vĩnh Linh hạ quyết tâm giữ đảo đến cùng.

Quyết tâm giữ đảo đến cùng của Đảng bộ và nhân dân khu vực Vĩnh Linh đã được Trung ương Đảng và Chính phủ khích lệ, giúp đỡ. Phong trào “Tất cả vì đảo” trong các tầng lớp nhân dân, nhất là trong lực lượng vũ trang, đoàn viên thanh niên. Ngoài đảo nêu khẩu hiệu “Còn đất liền, còn đảo”. Trong đất liền đáp lại “Còn đảo, còn đất liền”.

Đội truyền vận chuyển tiếp tế cho đảo được thành lập ngoài lực lượng thanh niên, tráng niên, mỗi thuyền còn có vài ba cụ phụ lão dày dạn sóng gió, dày dạn kinh nghiệm đi biển.

Đội thuyền gồm những chiếc thuyền gỗ, chạy buồm, chèo tay, luồn lách, vượt qua vòng vây của hải quân, không quân Mỹ, vận chuyển được hàng ngàn tấn vũ khí, lương thực, thực phẩm, nước ngọt từ đất liền ra đảo, kịp thời giải quyết khó khăn. Bộ đội ta trên đảo có lương thực, có vũ khí tiếp tục chiến đấu với đế quốc Mỹ và bọn tay sai một cách quyết liệt...

Trong phong trào vận chuyển phục vụ đảo Cồn Cỏ, nổi bất có thuỷ thủ Lê Văn Ban. Từ giữa nưam 1965 đến đầu năm 1967, anh đã trực tiếp tham gia 21 chuyến thuyền chèo tay chuyên chở lương thực, thực phẩm, súng đạn, bộ đội, thương binh từ đất liền ra đảo và từ đảo ra đất liền. Chuyến nào anh và đồng đội cũng dũng cảm vượt qua mạng lưới bao vây, săn đuổi của hải quân, không quân Mỹ và đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao. Có lần thuyền từ đảo vào đất liền (6/1965) bị 3 tàu chiến Mỹ phục kích, chúng đánh chìm 8 chiếc thuyền của ta (có 40 thuỷ thủ hy sinh). Cùng lúc đó một trận mưa to, gió lớn ập đến, chiếc thuyền do anh Ban chỉ huy mất phương hướng, trôi ra ngoài khơi cách đảo Cồn Cỏ về phía đông - nam khoảng 40km thuộc vùng biển Hải Lăng - nơi bọn Mỹ - nguỵ kiểm soát. Anh em thủy thủ sau một đêm vật lộn với địch hoạ, thiên tai, ai cũng mệt lử, vừa đói vừa rét... Trước tình hình đó, anh Ban vẫn bình tĩnh cùng anh em bàn bạc tìm cách đối phó. Anh em quyết định thả neo, vớt rong biển, hứng nước mưa nấu ăn, đồng thời lau chùi súng đạn chuẩn bị sẵn sàng chiến đấu... Sau hai ngày đêm bồng bệnh giữa sóng gió, anh em mới tìm được hướng vào đât sliền. Anh Ban quyết định nhổ neo, kéo buồm, thẳng tiến vào bờ, được anh em du kích và nhân dân vùng Gia Đăng - Triệu Phong đón tiếp niềm nở, phân công nhau nuôi giấu, che chở và sau đó tổ chức cho anh em ra khu vực Vĩnh linh theo con đường Trường Sơn Đông.

Trở lại đơn vị cũ (C22) đúng vào lúc Mỹ - nguỵ đang tập trung đánh phá khu vực Vĩnh Linh - Quảng Bình, bao vây, cô lập đảo Cồn Cỏ. Đoàn văn công của khu vực ra phục vụ các chiến sĩ ở đảo và đặc biệt có một số thương binh nặng phải chuyển gấp vào đất liền để có điều kiện chăm sóc, điều trị mà kéo dài hàng tuần vẫn chưa chuyển họ vào được. Để tháo gỡ bế tắc, Ban chỉ huy đơn vị cử Lê Văn Ban ra đảo, tìm cách đưa thương binh và đoàn văn công vào đất liền.

Nhận nhiệm vụ mới, anh Ban hăng hái ra đảo. Được các chiến sĩ ở đảo cung cấp tình hình hoạt động của địch trong thời gian qua. Trên cơ sở đó, anh ban đã tìm ra quy luật phục kích của bọn hải quân Mỹ ở vùng này và quyết định cho thuyền chở anh em thương binh... rời đảo vào đất liền đúng giữa trưa. Kết quả, những chuyến thuyền từ đảo Cồn Cỏ vào đất liền do anh Ban chỉ huy đều an toàn, trót lọt.

Với tinh thần chiến đấu dũng cảm, mưu trí, lập được thành tích xuất sắc, đáng được nêu gương cho quân và dân cả nước nói chung, cho CBCNV ngành Giao thông vận tải Việt Nam nói riêng noi gương học tập, giữa năm 1967, Lê Văn Ban đã được Đảng và Nhà nước ta phong tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.

Tiếp theo sau việc thành lập đội thuyền chèo tay vận tải phục vụ đảo Cồn Cỏ, đầu năm 1967, ngành Giao thông vận tải khu vực Vĩnh Linh thành lập Đoàn thuyền vận tải đường biển gồm 13 chiếc, mỗi chếic có trọng tải từ 5 đến 7 tấn, do anh Đậu Ngọc Danh làm đoàn trưởng. Đoàn thuyền vận tải đường biển làm nhiệm vụ tiếp nhận hàng từ Cửa Sót - Hà Tĩnh... đưa vào nhập kho tại Mỹ Trung, Gia Ninh - quảng Bình. Lực lượng ôtô vận tải của Đoàn 559 chốt ở Vĩnh Chấp - Vĩnh Linh, của Xí nghiệp công tư hợp doanh ôtô khu vực Vĩnh Linh và đội xe do đồng chí Cẩn phụ trách thay nhau ra Mỹ Trung nhận hàng, chuyển vào phục vụ mặt trận Trị Thiên - Huế và B5...

Trong quá trình làm nhiệm vụ vận chuyển trên biển, bên cạnh anh Lê Văn Ban, có một số cán bộ, thủy thủ khác đã nêu gương sáng quên mình vì nhiệm vụ, với quyết tâm cùng toàn dân và dân cả nước đánh thắng giặc Mỹ xâm lược, như các anh: Đậu Ngọc Danh, trên đường làm nhiệm vụ bị máy bay Mỹ bắn gãy một cánh tay. Trong cơn đau buốt dữ dội, anh Danh vẫn nghiến răng chịu đựng, dồn hết tâm sức dùng cánh tay còn lại đưa thuyền vào nơi trú ẩn, lúc đó anh mới tắt thở; anh Lê Hữu Ước được mệnh danh là mũi tên xanh. Anh Ước nhiều lần xung phong vận chuyển bộ đội, hàng hoá ra đảo Cồn Cỏ trong hoàn cảnh phi pháo địch đang tập trung oanh kích, ngăn chặn sự chi viện của miền Bắc vào miền Nam, cô lập tiêu diệt bộ đội ta trên đảo Cồn Cỏ...

Từ tháng 6/1965 trở đi, địch không những đánh phá ban ngày mà còn đánh phá giao thông vận tải của ta cả về ban đêm, tỷ lệ đánh phá ban đêm chiếm tới 40% so với ban ngày. Từ chỗ đánh theo mục tiêu, chúng tiến tới đánh theo toạ độ. Từ chỗ đánh vào cầu đường, các bến phà, các bến đò ngang, về sau chúng đánh cả vào phương tiện vận tải. Ngoài việc đuổi đánh phương tệin vận tải đang di chuyển trên đường, chúng còn cho máy bay đánh cả vào những nơi mà chúng nghi là khu vực tập kết hàng hoá, cất giấu phương tiện vận tải như lùm cây, búi cỏ lau lách ven đường, ven sông. Chúng dùng đại bác 20 ly bắn bừa bãi để tìm kiếm, thấy chỗ nào phụt lửa lên là chúng tập trung bom đạn dội xuống.

Ngoài các loại bo, đạn thông thường, địch còn dùng bom bi các cỡ, mìn lá, mìn vướng, mìn nhỏ có 3 càng khi nổ gây sát thương cho người, hoặc phá thủng lốp xe. Chúng thả “cây nhiệt đới”[1] để thu, truyền tín hiệu tiếng động từ nơi thả về căn cứ của chúng. Sau khi nhận được tín hiệu chúng cho máy bay đến oanh tạc ngay lập tức.

Mức độ đánh phá của địch năm sau tăng từ 2 đến 2,5 lần so với năm trước và càng ngày chúng càng dùng cách đánh ác hiểm hơn.

Trong bom đạn khốc liệt của quân thù, việc bảo đảm giao thông vận tải là nhiệm vụ trung tâm đột xuất hàng đầu của Đảng bộ và nhân dân địa phương.

Cũng trong thời gian này (1967), thực hiện chủ trương của Đảng uỷ và Uỷ ban Hành chính khu vực, bộ phận kiến trúc tác khỏi Ty Giao thông - Kiến trúc, thành lập Đội công trình phục vụ việc đào địa đạo... Ty Giao thông - Kiến trúc trở thành Ty Giao thông vận tải khu vực Vĩnh Linh.

Kết quả ngành Giao thông vận tải đã góp phần cùng quân và dân cả nước giáng trả bọn xâm lược Mỹ những đònc hí tử, đập tan mưu đồ “Đưa miền Bắc trở lại thời kỳ đồ đá”, đánh thắng cuộc chiến tranh phá hoại bằng không quân và hải quân của Mỹ ở miền Bắc, hiên ngang đứng vững nơi đầu sóng ngọn gió, xứng đáng là tiền đồn của miền Bắc xã hội chủ nghĩa. Tính đến cuối 1968, khu vực Vĩnh Linh đã bắn tan xác 235 máy ba Mỹ các loại, bắt sống nhiều giặc lái, bắn cháy và bắn chìm 36 tàu chiến và tàu biệt kích của địch, trong đó có 6 máy bay chiến lược B52 và chiến hạm Niu-gơ-đi của hải quân Mỹ.

Về công tác phòng tránh: Trong 4 năm, quân và dân khu vực Vĩnh Linh vừa kiên cường chiến đấu, sản xuất, vừa lập nên nhiều kỳ tích để bảo đảm tính mạng, tài sản của nhân dân trước sự tàn phá hết sức dã man của địch. Gắn liền nhiệm vụ phòng tránh với nhiệm vụ chiến đấu, sản xuất, coi trọng việc xây dựng hầm hào, coi hầm hào là cơ sở vật chất cho chiến đấu, sản xuất và tổ chức đời sống, trước mắt cũng như lâu dài, kết hợp với việc xây dựng làng chiến đấu. Toàn dân khu vực Vĩnh Linh đã nêu cao các khẩu hiệu: “Công sự hoá toàn Vĩnh Linh, biến khu vực Vĩn Linh thành Cồn Cỏ anh hùng”. “Một Chi bộ là một pháo đài. Mỗi hợp tác xã là một công sự, một người dân là một chiến sĩ. Toàn khu vực là một chiến trường”.

Quyết tâm ấy đã biến thành hành động. Toàn khu vực đã dành gần nửa số công lao động để đào đường hầm giao thông, dựng một hệ thống giao thông hào thôn nối thôn, xã nối xã và hàng trăm km hào giao thông từ hầm ở ra đồng, ra ruộng, ra giếng, hàng vạn hầm ăn, hầm ngủ, hầm sinh hoạt, trạm xá, hợp tác xã mua bán, hầm ngoài đồng ruộng, hầm trong vườn, hầm ở trại chăn nuôi, hầm ở đồi cao su, đồi chè... Tiêu biểu cho lĩnh vực hào giao thông ngầm ở khu vực Vĩnh Linh là địa đạo Vịnh Mốc. Địa đạo Vịnh Mốc nằm trong lòng một quá đồi đất đỏ bazan, có độ cao so với mặt biển tương đối lớn, thuộc địa phận xã Vĩnh Thạch, cách thị trấn Hồ Xá (trung tâm huyện lỵ) khoảng 18km về phía Đông - Nam. Ngoài khơi cách bờ biển thôn Vịnh Mốc gần 30km là đảo nhỏ tiền tiêu Cồn Cỏ.

Trong âm mưu chia cắt lâu dài đất nước Việt nam, đé quốc Mỹ đã tiến hành ở Vĩnh Linh một cuộc đánh phá mang tính huỷ diệt chưa từng có trong lịch sử chiến tranh thế giới. Tính riêng ở Vịnh Mốc, một thôn nhỏ (diện tích chưa đầy 1km2), với 82 nóc nhà của dân, có gần 300 khẩu, mà trong thời gian 1965 - 1966 phải hứng chịu một khối lượng bom đạn khổng lồ của hơn 100 trận oanh tạc của máy bay Mỹ. Đến giữa năm 1965, thôn Vịnh Mốc đã bị bom đạn Mỹ thiêu trụi.

Trước hiểm hoạ chiến tranh, để bảo toàn lực lượng cách mạng, tiếp tục chiến đấu, phục vụ chiến đấu mà trước mắt là làm nhiệm vụ chi viện cho đảo Cồn Cỏ... thì Chi bộ Đảng, Chi đoàn thanh niên lao động và nhân dân ở đây không có cách nào khác là phải bám đất, bám vào lòng đất. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, sự chỉ đạo trực tiếp của Đồn Công an khu vực; tổ xung kích được thành lập gồm 4 đảng viên (trẻ) và đoàn viên thanh niên trực tiếp đào sâu xuống lòng đất...

Địa đạo Vịnh Mốc chính thức khởi công sau vài ngày đã thu hút toàn dân trong thôn tham gia và đặc biệt được lực lượng vũ trang địa phưong phối hợp tích cực. Kết quả bước đầu trong 3 tháng (1965), Vịnh Mốc đã huy động được 18.000 ngày công lao động, đào và di chuyển trên 6.000m3 đất, tạo nên trong lòng đồi Vịnh Mốc một hệ thống hào ngầm chằng chịt với nhiều cửa ra vào và cửa thông gió từ 4 phía chân đồi và trên đồi, bao quanh đồi có đường giao thông hào dài 8.200m.

Địa đạo Vịnh Mốc là hình ảnh thu nhỏ của một thôn được cấu trúc trong lòng đất, có độ sâu từ 20 đến 28m so với trần đồi, có trục hào ngầm chính dài 768m, cao từ 1,5 đến 1,8m, rộng từ 1 đến 1,2m, từ trục chính toả ra nhiều nhánh hào ngầm phụ thông với bên goài bằng một cửa ra, vào địa đạo. Hai bên trục chính có khoét sâu vào đất thành từng ô, mỗi ô đủ cho một gia đình trú ẩn, sinh hoạt.

Địa đạo Vịnh Mốc có 3 tầng: tầng 1 (kể từ dưới lên) là nơi ở của nhân dân; tầng 2 là nơi đóng trụ sở của Đảng uỷ, Uỷ ban hành chính, Ban chỉ huy các lực lượng vũ trang địa phương; tầng 3 là kho hậu cần phục vụ lực lượng vũ trang chiến đấu, phục vụ chiến đấu, sẵn sàng chi viện lương thực, vũ khí... cho đảo Cồn Cỏ và miền Nam.

Về vận tải đường bộ, do yêu cầu phục vụ chiến đấu và sản xuất, phục vụ việc đi lại của nhân dân, nên số lượng xe và công nhân phục vụ Xí nghiệp Công tư hợp doanh ôtô tăng nhanh. Đến cuối năm 1964, tổng số xe của Xí nghiệp có 80 chiếc và trên 200 cán bộ, công nhân. Sau chiến dịch vận tải VT5, tháng 02/1969, ông Lê Thanh Liêm, Chủ tịch uỷ ban Hành chính khu vực ký quyết định chuyển Xí nghiệp Công tư hợp doanh ôtô thành Xí nghiệp Quốc doanh ôtô khu vực Vĩnh Linh, đồng thời quyết định bổ nhiệm đồng chí Lê Xảo - Phó Trưởng ty Giao thông (từ cuối năm 1965) trực tiếp làm Giám đốc Xí nghiệp. Qua quá trình làm nhiệm vụ trong các năm chống chiến tranh phá hoại của bè lũ Mỹ - nguỵ, 12 chiếc đã bị chúng bắn hỏng nặng, số xe còn lại vẫn đảm đương được nhiệm vụ tiếp nhận hàng của Trung ương chi viện cho địa phương, tổ chức vận chuyển lúa của nhân dân làm nghĩa vụ ở các xã đưa về nhập kho; đồng thời làm nhiệm vụ vận chuyển lương thực, thực phẩm, vũ khí phục vụ các mặt trận trên địa bàn khu vực và mặt trận Trị - Thiên - Huế.

Đầu năm 1966, để tăng cường lực lượng vận chuyển theo đường mòn nhỏ, tránh được các địa điểm thường bị máy bay Mỹ oanh tạc dữ dội, ngành Giao thông vận tải khu vực đã thành lập Đội xe đạp thồ gồm 32 xe đạp Vĩnh Cửu Trung Quốc do đồng chí Đoàn Toàn làm đội trưởng.

Mùa khô 1866 - 1967, địch mở chiến dịch nhằm ngăn chặn sự chi viện của miền Bắc cho chiến trường miền Nam.

Trước âm mưu mới của đế quốc Mỹ, Trung ương Đảng đã có chủ trương bảo đảm an toàn cho lực lượng không trực tiếp chiến đấu, giảm mật độ dân cư trong khu vực có chiến sự ác liệt... Từ tháng 8/1966, tổ chức sơ tán trẻ em, người già của Vĩnh Linh ra các tỉnh phía Bắc. Thực hiện chủ trương đó, ngành Giao thông vận tải khu vực Vĩnh Linh mở Chiến dịch vận tải K8, sơ tán 3 vạn cháu nhỏ từ 7 đến 15 tuổi ra các tỉnh: Thái Bình, Ninh Bình, Nam Hà, Thanh Hoá. Theo kế hoạch, tất cả các xã lập danh sách các cháu và đưa các cháu đến tập trung theo một địa điểm (bí mật) đã quy định. Từ đó, ngành Giao thông vận tải đưa các cháu ra Bắc theo từng chuyến một. Từ Vĩnh Linh ra Bắc Quảng Bình được sự phối hợp của Ty Giao thông vận tải Quảng Bình, đoạn đường khu vực Vĩnh Linh - Bắc Quảng Bình được chia thành 3 cung, 4 trạm:

- Cung 1: Từ Vĩnh Linh ôtô chuyển các cháu ra trạm Võ Xá - Nam Quán Hàu; sáng hôm sau đưa các cháu đi men sông Nhật Lệ về xã Bảo Ninh ăn nghỉ ở trạm. Tiếp đến dẫn các cháu dọc bờ sông đến đò Mẹ Suốt, vượt sông Nhật Lệ qua Phú Hải, vòng lên Cộn.

- Cung 2: Từ Cộn, ôtô đưa các cháu qua đường Ba Trại đến Mỹ Trạch ăn nghỉ. Hôm sau vượt sông Gianh sang Minh - Lệ. Từ đó các cháu đi bộ 10km lên Quảng Trung, vượt qua bến đò xã Quảng Trường.

- Cung 3: Từ Quảng Trường - bắc sông Gianh ôtô tiếp tục chuyển theo đường 22B ra Kỳ Anh - Hà Tĩnh. Từ Kỳ Anh, ôtô chuyển các cháu ra cầu Bùng - Nghệ An. Từ đó, xe Trung ương chuyển các cháu ra các tỉnh phía Bắc. Đến tỉnh nào, tỉnh đó phân bổ các cháu về từng huyện và phân công từng gia đình nhận các cháu về nuôi dưỡng, học hành.

Dưới sự chỉ đạo của Khu uỷ khi IV, Đảng ủ và Uỷ ban Hành chính khu vực Vĩnh Linh lãnh đạo và chỉ đạo lực lượng vũ trang sẵn sàng chiến đấu, tổ chức bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương... diễn tập tác chiến phòng thủ chống địch tập kích bằng đường bộ, đường biển, đường không khu vực Vĩnh Linh - Nam khu IV. Mặt khác, thực hiện chủ trương của Trung ương, rà soát lại lực lượng, tiếp tục sơ tán thêm một số dân ở địa bàn khu vực Vĩnh Linh ra một số tỉnh phía Bắc gọi là kế hoạch K10. Bắt đầu từ tháng 11/1967, chỉ sau một thời gian ngắn, Ty Giao thông Vĩnh Linh đã tập trung mọi phương tiện đưa được 22.137 người sơ tán ra các huyện Thạch Hà, Can Lộc - Hà Tĩnh và Tân Kỳ - Nghệ An.

Trong các đợt vận chuyển bằng ôtô phục vụ K8, K10, tiêu biểu có lái xe Trần Chí Thành. Anh Thành lái chiếc xe Mônô mang biển số 857 đã làm tốt nhiệm vụ được giao trong hoàn cảnh bị địch tập trung lực lượng phi pháo oanh kích dữ dội trên khắp các tuyến đường thuộc địa phận khu vực Vĩnh Linh - Quảng Bình. Anh Thành đã lập được nhiều thành tích xuất sắc, ở đây xin nêu một vài dẫn chứng: trong Chiến dịch vận chuyển K8 có đêm gặp lúc địch thả pháo sáng để tìm mục tiêu, để bảo vệ đoàn xe 20 chiếc chở các cháu, anh Thành đã có sáng kiến dẫn các cháu trên xe của mình vào giấu trong lô cốt, rồi anh bật đèn pha cho xe chạy theo một tuyến đường khác đánh lạc hướng máy bay địch. Một lần khác, trên đường từ Đồng Hới vào khu vực Vĩnh Linh, gặp đoàn xe quân sự gồm 7 chiếc đang mắc lầy ở đoạn đường ngang qua xã Võ Ninh - Lệ Ninh - Quảng Bình, lúc này đã quá nửa đêm, anh em bộ đội ai cũng lo... Thấy vậy, anh Thành không một chút do dự, đắn đo, với cương vị là tổ trưởng, anh ra lệnh huy động cả 8 chiếc xe do anh phụ trách, tập trung tìm mọi cảnh cứu đoàn xe quân sự lúc trời vừa tảng sáng, tránh được các cuộc oanh ích của máy bay địch... Với những thành tích xuất sắc đóm ngày 31/12/1973, anh Trần Chí Thành được Đảng và Nhà nước phong tặng danh hiệu Anh hùng Lao động.

Bất chấp máy bay B52 rải thảm, pháo chụp, pháo bầy đủ loại, đủ cỡ từ bờ Nam sông Bến Hải bắn ra, từ ngoài biển bắn vào, nhân dân khu vực Vĩnh Linh vẫn vững vàng bám trụ, sản xuất và chiến đấu. Các xã bờ bắc Bến Hải chèo thuyền đưa bộ đội vượt sông Bến Hải vào đường 9 chiến đấu. Đặc biệt ở bến đò Tùng Luật do một đại đội dân công đảm nhiệm, có một số cán bộ giao thông vận tải làm nòng cốt, âm thầm lặng lẽ, người này ngã, người khác thay choè, giành giật thời gian với máy bay, pháo sáng, bom đạn của địch, đã chuyển 1.382.000 lượt bộ đội, dân quân, dân công hoả tuyến vào chiến đấu ở chiến trường mặt trận đường 9 - Khe Sanh trong xuân hè 1968, đồng thời chuyển 130.000 thương binh từ chiến trường miền Nam ra miền Bắc.

Cùng thời gian này, không quân và hải quân Mỹ tập trung đánh phá đảo Cồn Cỏ. Ngày 03/5/1968, các chiến sĩ đảo Cồn Cỏ đã bắn hạ 4 chiếc máy bay.

Thi đua với Cồn Cỏ, ngày 05/8/1968, quân dân khu vực Vĩnh Linh bắn rơi 2 chiếc F4 của Giặc Mỹ, trong đó có chiếc thứ 200 của địa phương.

Thắng lợi liên tiếp đó được Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi thư khen và tặng 2 câu thơ:

“Đánh cho giặc Mỹ tan tành,

Năm châu khen ngợi Vĩnh Linh anh hùng”.

Nhìn chung, những năm chống chiến tranh phá hoại lần thứ nhất, mặc dù địch đánh phá, phong toả, ngăn chặn gắt gao bằng nhiều thủ đoạn, bằng nhiều loại vũ khó, bom đạn với cường độ, quy mô ngày càng ác liệt, ngày càng mở rộng. Bên cạnh hệ thống giao thông huyết mạch sẵn có, khu vực Vĩnh Linh đã mở thêm nhiều tuyến đường, hình thành thêm bến vượt, cầu, phà dự bị cải tạo, sửa chữa và nâng cấp hàng trăm kilômét đường giao thông nông thôn, xoá dần thế “độc tuyến”, “độc bến”. “Đánh địch mà đi mở đường mà tiến”. Được sự chỉ đạo của Bộ Tổng tham mưu Quân đội nhân dân Việt Nam, các lực lượng vũ trang đứng chân trên địa bàn khu vực đã tích cực và chủ động tham gia công tác bảo đảm giao thông, sử dụng khả năng phòng không và công binh để bảo vệ bằng được các tuyến giao thông chiến lược... Tất cả các lực lượng công binh, cao xạ, vận tải, thanh niên xung phong, thông tin, các binh trạm, kho tàng đều lấy việc vận chuyển hàng hoá và bảo đảm hành quân làm nhiệm vụ trọng tâm, đêm ngày bám đường, bám trận địa bền bỉ, không quản ngại hy sinh, liên tiếp mở các chiến dịch vận chuyển nhằm đáp ứng kịp thời đòi hỏi ngày càng tăng của các chiến trường...

Về địch, thấy bại nặng nề ở cả hai miền Nam - Bắc, nhất là trong Xuân Mậu Thân. Ngày 01/11/1968, Tổng thống Mỹ Giôn Xơn buộc phải tuyên bố “Ném bom hạn chế” miền Bắc và chấp nhận thương lượng với Chính phủ ta tại Pari. Đây là một bước “xuống thang” của Mỹ trong cuộc chiến tranh phá hoại miền Bắc, đồng thời thực hiện âm mưu mới nhằm tập trung lực lượng đánh phá ác liệt hệ thống giao thông nam khu IV, ngăn chặn chi viện từ miền Bắc vào miền Nam, giành thế mạnh trong đàm phán.

Ngày 03/11/1968, Chủ tịch Hồ Chí Minh kêu gọi đồng bào và chiến sĩ cả nước, khẳng định nhiệm vụ của toàn dân ta lúc này là phải nâng cao tinh thần quyết chiến, quyết thắng, quyết tâm giải phóng miền Nam, bảo vệ miền Bắc, tiến tới hoà bình thốnh nhất Tổ quốc: “Hễ còn một tên xâm lược trên đất nước ta thì ta còn phải tiếp tục chiến đấu quét sạch nó đi”1.

Cuối tháng 10/1968, Bộ Giao thông vận tải truyền đạt chủ trương của Trung ương và phổ biến kế hoạch về việc thực hiện một chiến dịch vận tải lớn từ tháng 11/1968 đến tháng 01/1969, lấy tên là “kế hoạch vận tải VT5”.

Kế hoạch VT5 sẽ đưa vào Quảng Bình 12 vạn tấn hàng hoá để chuyển tiếp vào chiến trường.

Phần khu vực Vĩnh Linh phải nhận một vạn tấn, bao gồm súng đạn, gạo, thực phẩm, thuốc men...

Suốt từ sông Gianh, Quán Hàu, đến Lệ Thuỷ, vượt Dốc Sỏi vào Vĩnh Linh phải đặt trên 10 trạm chuyển tiếp vừa cơ giới, vừa thô sơ. Bất chấp B52 rải thảm, pháo chụp, thuyền vẫn đưa được hàng đến đích, đưa bộ đội vượt sông vào chiến trường.

Dân quân các xã vùng biển tổ chức các đội tình nguyện giỏi bơi lặn chi viện cho Cồn Cỏ, giữ trọn lời thề “Vĩnh Linh còn, Cồn Cỏ còn”.

Vừa chiến đấu bảo vệ quê hương, chi viện tiền tuyến, vừa củng cố xây dựng lực lượng, hàng ngàn nam nữ thanh niên khu vực Vĩnh Linh đã dũng cảm xông vào công việc vận chuyển, tiếp lương tải đạn không kể giờ giấc, nguy hiểm, có đêm huy động 1.200 dân quân vận chuyển hoả tiễn A12 từ Vĩnh Phú vào tận Cửa Việt kịp cho bộ đội đánh tàu địch.

Năm 1969, toàn khu vực đã huy động 10.247 ngày công đi phục vụ tiền tuyến. Các bến đò dọc sông Bến Hải tiếp tục làm nhiệm vụ đưa bộ đội ta từ Bắc vào Nam, tiếp nhận thương bệnh binh từ bờ Nam đưa ra bờ Bắc. Toàn khu vực đã tu sửa 310km hào giao thông, làm mới thêm 20km giao thông hào...

Ngày 02/9/1969, Chủ tịch Hồ Chí Minh từ trần, đây là một tổn thất vô cùng to lớn của cả dân tộc ta. Người đã để lại Di chúc thiêng liêng, dặn lại đồng bào và chiến sĩ cả nước: “Dù khó khăn gian khổ đến mấy, nhân dân ta nhất định sẽ hoàn toàn thắng lợi. Đế quốc Mỹ nhất định phải chút khỏi nước ta. Tổ quốc ta nhất định sẽ thống nhất. Đồng bào Nam Bắc nhất định sẽ sum họp một nhà”.

Biến đau thương thành hành động cách mạng, ngành Giao thông vận tải cùng với quân dân trong khu vực và cả nước quyết thực hiện bằng được Di chúc thiêng liêng của Bác Hồ kính yêu.

Trung ương nhận định: “Từ đây Đông Dương đã trở thành một chiến trường thống nhất và cùng với bạn nhất trí xác định vị trí mới của từng chiến trường trong cuộc chiến đấu chống kẻ thù chug của 3 nước Đông Dương lúc này là đế quốc Mỹ xâm lược”1.

Ở khu vực Vĩnh Linh, địch cho máy bay trinh sát và bắn phá miền Tây và dọc tuyến, nhưng không ồ ạt như trước. Tận dụng thời gian có sự hoà hoàn, giao thông vận tải tập trung sửa chữa cầu đường, phương tiện, “đường 16 được mở rộng kéo dài vào tận Bắc đường 9[2].

Đầu năm 1971, Mỹ - nguỵ mở cuộc hành quân “Lam Sơn 719” tiến công lớn ra đường 9 - Nam Lào, hòng đánh chiếm SêPôn phá tận gốc đường vận chuyển chiến lược Bắc - Nam của ta, chia cắt 3 nước Đông Dương.

Khu vực Vĩnh Linh và nam Quảng Bình là địa bàn tập kết lực lượng bộ đội chủ lực, phương tệin vật chất kỹ thuật, là nơi xuất phát tiến công địch tại đường 9 - Nam Lào. Với tinh thần “Chiến trường cần gì, hậu phương sẵn sàng đáp ứng”. Lực lượng thanh niên, nông dân đóng góp hàng vạn ngày công phục vụ chiến đấu, tạo mọi điều kiện thuận lợi cho các đơn vị bước vào chiến dịch.

Ta đã chuẩn bị tốt và tiến hành thắng lợi chiến dịch phản công có ý nghĩa chiến lược đường 9 - Nam Lào, đánh bại quân chủ lực nguỵ có sự yểm trợ của hoả lực Mỹ, đánh bại cố gắng quân sự cao nhất của quân nguỵ trong chiến lược “Việt Nam hoá chiến tranh”. “Chiến dịch đường 9 - Nam Lào của ta đã chấm dứt ý đồ tiến công - phản kích đánh ra vòng ngoài bằng các cuộc hành quân lớn của Mỹ nguỵ trên chiến trường 3 nước Đông Dương”1.

Thực hiện Nghị quyết Hội nghị Thường vụ Quân khu uỷ Quân khu IV 11/02/1972, ngày 27/3/1972, Thường vụ Đảng uỷ khu vực Vĩnh Linh họp bất thường, ra Nghị quyết về một số nhiệm vụ đột xuất.

Sau 5 ngày chiến đấu liên tục, bắt đầu lúc 11 giờ 30 phút gày 30/3/1972 quân dân Quảng Trị ở 2 khu vực nam, bắc sông Bến Hải phối hợp chặt chẽ với bộ đội chủ lực thực hiện “tiến công, nổi dậy” phá vỡ tuyến phòng thủ đường 9 - Bắc Quảng Trị, giải phóng hoàn toàn vùng Gio - Cam.

Vui mừng trước thắng lợi to lớn đó, khu vực Vĩnh Linh huy động ngay một lúc 8.000 dân công ngày đêm bắc cầu phao qua sông Bến Hải, thông đường quốc lộ 1A từ Bắc vào tận “ngã tư Sòng” - Cam Lộ, chuẩn bị bến vượt, bảo đảm cho xe pháo của ta kịp chuyển lên “phía trước”; đồng thời huy động lực lượng giải quyết tốt khâu hậu cần cho các lực lượng tham gia chiến đấu và phục vụ chiến đấu, đón nhận, chăm sóc thương binh, thu dụng tù binh, hàng binh...

Trước đòn tiến công mãnh liệt và bất ngờ của ta, Mỹ - nguỵ lúng túng, vội vàng bỏ tuyến phòng ngự bên ngoài, co về phòng thủ tuyến trong.

Mỹ phải bị động dùng không quân, hải quân trở lại đánh phá quyết liệt cả hai miền Nam và Bắc.

Tính đến ngày 13/04/1972, không quân Mỹ - nguỵ đã xâm phạm vùng trời khu vực 245 lần, ném 172 quả bom, bắn hàng loạt đạn 20 ly, tên lửa xuống các thôn xóm. Pháo ở Hạm đội 7 bắn vào khu vực Vĩnh Linh 2.604 quả loại 127 lyđến 203 ly. Với kỹ thuật dùng tia la de điều khiển bom và tên lửa, máy bay giặc Mỹ đã phá huy toàn bộ cầu, chống và các mục tiêu khác trên khu vực Vĩnh Linh.

Hưởng ứng lời kêu gọi của Ban Chấp hành Đảng bộ khu vực, đảng viên, đoàn viên, công nhân viên chức, các lực lượng vũ trang ngày đêm bám sát các mục tiêu, phục vụ chiến đầu và tham gia chiến đấu trong cuộc tiến công chiến lược 1972 ở chiến trường, góp phần giải phóng hoàn toàn tỉnh Quảng Trị vào ngày 01/5/1972.

Với những thắng lợi to lớn trên chiến trường miền Nam và đặc biệt ở Quảng Trị, chiến lược “Việt Nam hoá chiến tranh” của đế quốc Mỹ có nguy cơ bị phá sản hoàn toàn.

Trước tình hình nguy ngập, đế quốc Mỹ đã sử dụng lực lượng lớn không quân, hải quân ồ ạt tham chiến ở miền Nam và gây lại cuộc chiến tranh phá hoại với quy mô rộng và bằng phương tiện hiện đại nhất đối với miền Bắc nước ta. Khu vực Vĩnh Linh là một trong các trọng điểm đánh phá ác liệt của đế quốc Mỹ.

Trong đợt định tập trung lực lượng phản kích, tái chiếm thị xã Quảng Trị, khu vực Vĩnh Linh đã tổ chức đón tiếp trên 5 vạn đồng bào huyện Triệu Phong ra sơ tán và một số cơ quan, ban ngành của tỉnh Quảng Trị dời ra đóng ở Vĩnh Nam.

Từ giữa năm 1972, một lần nữa đọ sức với cuộc chiến tranh phá hoại có tính chất huỷ diệt của đế quốc Mỹ, nhưng quân dân khu vực Vĩnh Linh vẫn bám trụ vững chắc, huy động đến mức cao nhất sức người, sức của phục vụ đắc lực sự nghiệp cách mạng giải phóng miền Nam, giao thông vận tải bảo đảm thông suốt trong mọi tình huống...

Sau Hiệp định Pari ký kết, ngày 31/01/1973, khu vực Vĩnh Linh tổ chức cuộc mít tinh lớn tại thị trấn Hồ Xá để chào mừng thắng lợi, hưởng ứng lời kêu gọi của Trung ương Đảng 28/01/1973.

Ngày 15/02/1973, Đảng uỷ khu vực họp, ra Nghị quyết về nhiệm vụ trước mắt, trong đó có đoạn nêu rõ: “Quyết tâm chung của cán bộ, đảng viên, chiến sĩ và nhân dân khu vực là tiếp tục chuẩn bị thế trận, sẵn sàng đánh bại mọi âm mưu thủ đoạn ngoan cố, liều lĩnh của Mỹ - nguỵ, bảo vệ tốt địa bàn, kho tàng, tính mạng và tài sản của nhân dân. Làm tốt công tác giao thông vận tải, phục vụ kịp thời tiền tuyến”.

Đảng bộ và nhân dân khu vực Vĩnh Linh tiếp tục vượt qua khó khăn, khôi phục, phát triển kinh tế, làm tốt nghĩa vụ hậu phương trực tiếp của chiến trường Quảng Trị, được sự hỗ trợ của Bộ Giao thông vận tải, Ty giao thông Vĩnh Linh đã đưa hơn 22.000 đồng bào sơ tán ra Tân Kỳ - Nghệ An và trên 4 vạn học sinhK8 lầnlượt trở về xây dựng lại quê hương. Trong hai năm 1974 - 1975, quân và dân khu vực Vĩnh Linh góp phần tích cực của mình cùng với các địa phương khác như Quảng Bình, Hà Tĩnh... đã hoàn thành và hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ bảo đảm giao thông, vận chuểyn hàng hoá phục vụ chiến dịch mùa xuân 1975 giải phóng phần đất còn lại của Quảng Trị, Thừa Thiên, tiếp đến là chiến dịch hồ Chí Minh lịch sử giải phóng hoàn toàn miền Nam vào ngày 30/4/1975.

B. QUẢNG TRỊ

I. GIAI ĐOẠN TỪ CUỐI 1954 ĐẾN ĐẦU 1965

Ngày 22/7/1954, một ngày sau khi Hiệp định Giơnevơ ký kết, Chủ tịch Hồ Chí Minh thay mặt Đảng và Chính phủ gửi đến toàn thể đồng bào, quân đội và cán bộ trong cả nước lời kêu gọi:

“Hiệp định Giơnevơ là kết quả của 8, 9 năm kháng chiến cực kỳ anh dũng của nhân dân ta từ Bắc đến Nam. Do việc ký kết Hiệp định Giơnevơ, từ nay cách mạng nước ta chuyển sang một giai đoạn mới, giai đoạn đấu tranh để thực hiện thống nhất, hoàn thành độc lập và dân chủ trong cả nước”.

Người kêu gọi tất cả mọi người Việt Mam yêu nước, không phân biệt tầng lớp, tín ngưỡng, chính kiến, hãy thật thà cộng tác, vì dân vì nước mà phấn đấu để thực hiện hoà bình thống nhất, độc lập dân chủ trong nước Việt Nam yêu quý của chúng ta”.

Cùng với toàn Đảng và toàn dân, cán bộ công nhân viên ngành Giao thông vận tải - Bưu điện Quảng Trị đã tổ chức học tập lời kêu gọi của Hồ Chủ Tịch, quyết biến những lời căn dặn của Người tàhnh sức mạnh đấu tranh chống bè lũ Mỹ - Diệm.

Ngày 8/8/1954, Hội đồng an ninh Mỹ do Tổng thống Aixenhao chủ trì đã chính thức quyết định thay Pháp xâm lược Việt Nam.

Mỹ trực tiếp xâm lược. Miền Nam Việt Nam từ thuộc địa của Pháp trở thành thuộc địa kiểu mới của Mỹ.

Trong bối cảnh đất nước bị chia cát, ngành Giao thông vận tải cũng phải thích ứng với tình hình, một mặt phải đấu tranh với địch, duy trì mạch máu giao thông với khu vực Vĩnh Linh, miền Bắc xã hội chủ nghĩa, mặt khác phải nhanh chóng tìm biện pháp để từng bước xây dựng mạng lưới đường giây giao thông liên lạc ngay trong lòng địch để đáp ứng yêu cầu của cách mạng trong giai đoạn mới.

Sau khi tổ chức học tập quán triệt Nghị quyết Hội ngjhị lần thứ 6 của Trung ương Đảng khoá 2, Tỉnh uỷ Quảng Trị đã chọn một số cán bộ kiên trung (trong đó có cán bộ giao thông, bưu điện) ở lại bám trụ trên địa bàn hoạt động cách mạng. Bộ phận giao lưu gồm 20 cán bộ do đồng chí Ngô Trọng Thuỷ phụ trách, chia làm ba tiểu tổ: một tiểu tổ phục vụ Ban cán sự Đảng Triệu Hải, tiếp tục duy trì liên lạc với giao bưu huyện Phong Điền - Thừa Thiên do đồng chí Phan Cảnh Tám phụ trách; một tiểu tổ phục vụ Ban cán sự Đảng Gio - Cam, trực tiếp nhận và chuyển tài liệu khu vực Vĩnh Linh, do đồng chí Lê Văn Kháng (Lô) phụ trách; tiểu tổ trung tâm luôn luôn di chuyển theo Văn phòng Tỉnh uỷ do đồng chí Ngô Trọng Thuỷ phụ trách, với nhiệm vụ trực tiếp điều hành hai tiểu tổ phục vụ ở các địa bàn phía Nam và phía Bắc tỉnh nối thông liên lạc với tuyến giao thông liên lạc Bắc - Nam. Bộ phận vô tuyến điện (VTĐ) ở lại phục vụ Tỉnh uỷ do đồng chí Phan Chí (Lạc) làm trưởng Đài, đồng chí Trịnh Đình Khúc làm báo vụ...

Nhiệm vụ cụ thể của mỗi cán bộ giao bưu lúc này là dẫn đường, đưa cán bộ đi lại hoạt động, đưa các đồng chí trong Thường vụ Tỉnh uỷ, Bí thư huyện, Thị uỷ ra khu uỷ khu IV tiếp thu Nghị quyết của Bộ Chính trị Trung ương Đảng; chú trọng xây dựng cơ sở giao liên mới, trước hết là ở các địa bàn đóng cơ quan Tỉnh uỷ, Huyện uỷ...; đồng thời phối hợp với an ninh bảo vệ tìm các địa điểm dự phòng cho các cơ quan lãnh đạo khi chổ ở bị lộ...; tiếp tục nhận công văn, báo chí của Đảng và Nhà nước từ miền Bắc chuyển vào, các tờ báo “Hoà bình”, “Yêu nước” - cơ quan tuyên truyền của Đảng bộ Quảng Trị và chuyển đến tận cơ quan, đơn vị cơ sở, cán bộ đảng viên đứng chân hoạt động ở các địa bàn trong tỉnh do đối phương kiểm soát.

Thời gian cuối 1954, đầu 1955, cơ quan Tỉnh uỷ đóng ở phía tây Triệu Phong như Xóm Chuối, Teng Teng; Tháng 12/1955 xuất phát từ yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới, Tỉnh uỷ quyết định dời cơ quan về đóng ở đồng bằng Triệu Phong như CK1 (các thôn Anh Kiệt) Anh Trú...), CK2 (các thôn Lập Thạch, Vân An...), CK3 (các thôn Dương Xuân, Duy Phiên, Hà La...); CK4 (các thôn Vĩnh Huề, Tường Vân...) để trực tiếp chỉ đạo phong trào đồng bằng - đô thị đấu tranh đòi đối phương thi hành Hiệp định Giơnevơ, đòi mở hiệp thương giữa hai miền, tiến tới tổ chức tổng tuyển cử trong cả nước.

Đầu năm 1955, Thường vụ Tỉnh uỷ Quảng Trị họp, khẳng định: Phải đảm bảo giao thông liên lạc trong mọi tình huống, tổ chức các tuyến liên lạc hợp pháp nối liền giữa đồng bằng ven biển với miền núi, giữa Quảng trị và khu vực Vĩnh Linh...Thường vụ Tỉnh uỷ phân công đồng chí Nguyễn Văn Tào (Khởi) - Uỷ viên Thường vụ Tỉnh uỷ chịu trách nhiệm tổ chức các tuyến giao liên vùng đồng bằng ven biển. Tuyến ven biển từ Cửa Việt ra Cửa Tùng, tổ giao thông liên lạc này lần đầu tiên gồm 3 người do đồng chí Lê Phú, Bí thư Chi bộ An Lộc làm tổ trưởng. Tổ đường dây của đồng chí Lê Phú phục vụ từ năm 1955 đến 1956, đã giải quyết tốt nhiều việc đột xuất hệ trọng như vận chuyển tài liệu, đưa đón cán bộ Trị - Thiên...ra Bắc, vào Nam hoạt động. tuyến đường dây hợp pháp qua cầu Hiền Lương do chị Lê Thị Miên, anh Lê Nuôi...đảm nhiệm. Ở nội thị xã Quảng trị cũng hình thành được đường dây liên lạc hợp pháp do đồng chí Hiền (an ninh) phụ trách...

Ở núi, sau khi thực hiện xong việc chuyển quân, tập kết, cơ quan Huyện uỷ Hướng Hoá rút vào hoạt động bí mật. hàng ngày các đồng chí trong các bộ phận Nam, Bắc đường 9, phân công nhau có cán bộ giao liên dẫn đường về bám các địa bàn vận động đồng bào, đẩy mạnh sản xuất, tổ chứuc các “già làng” đứng ra làm đại diện đấu tranh với địch, hạn chế sự sùng sục của địch, bảo vệ và nuôi dưỡng được 256 cán bộ của tỉnh Quảng Nam - Đà Nẵng trên đường ra Bắc bị kẹt lại ở địa bàn Hướng Hoá gần một năm. Cũng trong năm 1955, cán bộ và nhân dân các dân tộc Việt Kiều, Pacô còn làm tốt nhiệm vụ vận chuyển tiếp tế lương thực, thực phẩm cho cơ quan Tỉnh uỷ Savannakhet (Lào) đóng ở A - Vao trong suốt thời gian bị bọn phản động Phu - My và Cà Tày (thân Mỹ) trở mặt phá bỏ hiệp định Gơnevơ, truy lùng, khủng bố lực lượng Pha thét Lào.

Tuyến đường bộ miền núi - mạch máu giao thông liên lạc giữa hai bờ Bắc - Nam sông Bến Hải có lúc gặp khó khăn do đối phương phong toả. Để duy trì và phát triển con đường đó, Tỉnh uỷ Quảng Trị đã cử đồng chí Lê Hành - tỉnh uỷ viên phụ trách cùng đồng chí Phan Du của khu vực Vĩnh Linh, dựa vào đồng bào Vân Kiều, bằng cách “bản xỏi bản” nghĩa là từ bản này tìm đường đến bản khác, một bản đặt một trạm có từ 2 đến 3 người thường trực do nhân dân trong bản tự do cắt, cử người đứng ra thay nhau giúp đỡ cách mạng. Khi có công văn, báo chí, hàng hoá... đến trạm, trạm cử người gùi đi tiếp. Từ xã Tà Long - Nam đường 9 ra Tây khi vực Vĩnh Linh gồm các trạm: Ba Nang - xã Tà Long, Cheng, Ly Tôn, Kê, Châu Rò, Xã Ruộng, Cơn Tăm, Bãi Hà.

Kết quả cuối nưam 1956, ở địa bàn Quảng trị, khu vực Vĩnh Linh đã mở được hai tuyến đường dây mang tên Thống Nhất và Lam Sơn... Hai đường dây này làm nhiệm vụ đưa cán bộ, hàng hoá từ Bắc vào, từ miền Nam ra...đ ều do Ban C10 quản lý.

Tháng 10/1957, được sự đồng ý của Trung ương Đảng, Tỉnh uỷ Quảng trị tổ chức Hội nghị tại nhà số 55, phố Hàng Chuối (Hà Nội). Hội nghị vinh dự được đồng chí Lê Duẫn, Uỷ viên Bộ chính trị Trung ương Đảng công tác ở Miền Nam vừa ra đến dự và trực  tiếp truyền đạt tinh thần và nội dung bản Đề cương cách mạng miền Nam do đồng chí soạn thảo.

Để phục hồi phong trào cách mạng, tiếp tục đưa phong trào cách mạng ở địa phương tiến lên, Hội nghị Tỉnh uỷ đề ra các nhiệm vụ, trong đó nhiệm vụ xây dựng căn cứ địa miền núi, đảm bảo an toàn tuyến hành lang Bắc - Nam... Sau Hội nghị Tỉnh uỷ, các Huyện uỷ đều mở rộng Hội nghị nghiên cứu, quán triệt “Đề cương cách mạng miền Nam”, Nghị quyết Tỉnh uỷ (10/1957) nhằm đưa phong trào cách mạng miền Nam vượt qua những khó khăn thử thách và tiến lên. Qua sinh hoạt quán triệt đã làm cho mọi cán bộ, đảng viên của Đảng bộ Quảng trị nức lòng phấn khởi.

Việc móc nối lại cơ sở, phục hồi xây dựng lực lượng cách mạng lúc này gặp vô vàn khó khăn gian khổ. Ngô Đình Diệm và bè lũ tay sai đang ra sức đánh phá phong trào cách mạng khốc liệt hơn, tàn bạo hơn trước chiến dịch “tố cộng” giai đoạn 3. Phương châm của chúng là “dùng cộng diệt cộng” “dùng dân phá dân”, “dùng dân diệt cộng”...

Trước tình hình đó, cán bộ giao liên dẫn đường cho các đồng chí trong cấp uỷ từ miền núi (khu căn cứ) về vùng giáp ranh, đồng bằng gặp nhiều trắc trở. Đồng chí Trần Tiêu nguyên là cán bộ phụ trách nhà in của cơ quan Tỉnh uỷ lúc đó kể lại: “Trong thời gian Mỹ - Diệm mở chiến dịch “tố cộng, diệt cộng;, mỗi lần đi về đồng bằng, tôi giao liên phải trèo lên cây cao hoặc mỏm đồi cao quan sát, định hướng, sau đó tụt xuống cứ theo hướng đã định tự mở đường mà đi. Mỗi chuyến đi, về như vậy thường bị rách một cái quần dài, mà có phải lần nào cũng trót lọt cả đâu. Có khi 5 lần, 7 lượt mới đạt được mục tiêu của một chuyến đi. Bởi vì nhiều lần về đến rìa làng, chờ mãi cho đến canh hai, canh ba mà không nhận được mật hiệu của cơ sở thì chúng tôi phải đành ôm bụng đói mà chạy cho nhanh để kịp vượt qua các đồi trọc vùng giáp ranh trước khi trời sáng. Giam khổ, vất vả đến thế nhưng chúng tôi vẫn kiên quyết bám cơ sở, không bám cơ sở thì không có lương thực, thực phẩm, không có nguyên liệu giấy mực để ra báo, ra bản tin. Máy in ngừng hoạt động”.

Ở miền núi Hướng Hoá, Mỹ - Diệm  tích cực tổ chức lực lượng dân vệ, gom dân vào “ấp chiến lược”, cho bọn tay sai phản động thọc sâu vào các bản mà chúng cho và “vùng Việt Cộng” để khủng bố, bắt bớ, ngăn cản không cho đồng bào các dân tộc ra đường 9 - Khe Sanh trao đổi hàng hoá.

Trước tình hình đó, đầu năm 1958, Huyện uỷ Hướng Hoá triệu tập hội nghị cán bộ mở rộng tại thôn Rờ - Reng , xã Ruộng. Hội nghị đề ra nhiệm vụ: phải khéo tận dụng hết các khả năng đấu tranh công khai hợp pháp để khôi phục, giữ vững các lợi ích sinh sống hàng ngày của đồng bào các dân tộc; vặt khác phải ra sức xây dựng lực lượng hoạt động bí mật như tổ chức Đảng, Đoàn Thanh niên Lao động Việt Nam, lực lượng nòng cốt trung kiên nằm trong quần chúng, củng cố và phát triển mạng lưới giao thông liên lạc...

*     *

*

          Đáp ứng yêu cầu cách mạng miền Nam và đòi hỏi của lịch sử, ngày 13/01/1959, Ban chấp hành Trung ương Đảng họp Hội nghị lần thứ 15 tại Hà Nội và ra Nghị quyết lịch sử về cách mạng miền Nam.

          Triển khai Nghị quyết 15, Bộ Chính trị Trung ương Đảng giao cho Quân uỷ Trung ương nghiên cứu tổ chức một đoàn giao thông quân sự đặc biệt mở tuyến giao liên và vận tải đưa cán bộ, vũ khí và  những hàng hoá cần thiết vào miền Nam. Bộ Chính trị chỉ rõ: “Đây là mộ việc lớn có ý nghĩa chiến lược, quan hệ trực tiếp đến sự nghiệp giải phóng miền Nam thống nhất Tổ quốc”. Bộ Chính trị đề ra phương châm: “Mở đường và tổ chức vận tải từ miền Bắc vào miền Nam trong những năm đầu phải tuyệt đối bí mật, an toàn”. Và giao cho Thượng tá Võ Bẩm có nhiệm vụ tổ chức lực lượng mở đường vận tải vào miền Nam.

          Cuộc họp bí mật tại một địa điểm ở khu vực Vĩnh Linh do Thượng tá Võ Bẩm chủ trì gồm các đồng chí: Nguyễn Quyết - Khu uỷ viên Khu uỷ V, Lê Hành - Tỉnh uỷ viên, Bí thư Huyện uỷ Hướng Hoá đã bàn những vấn đề cụ thể về việc mở tuyến đường chiến lược 5591. Tuyến đường này không dừng lại ở bờ Bắc sông Bến Hải mà vượt qua đường 9, đi thẳng vào phía Nam. Để bảo đảm bí mật, phương châm mở tuyến đường là phải “xuyên sơn” mà đi, không trùng với các lối mòn cũ. Cuộc họp phân công đồng chí Lê Hành chịu trách nhiệm huy động lực lượng mở tuyến đường qua địa bàn Hướng Hoá, tây Thừa Thiên; đồng chí Nguyễn Quyết chịu trách nhiệm chuyển tiếp vào khu V2.

          Sau khi thành lập Tiểu đoàn 301 của Đoàn 559 hành quân vào tập kết tại Khe Hó cách thị trấn Hồ Xá 15km về phía tây, cách trục đường 15B 3km về phía Tây - bắc, là một vùng đồi núi chập chùng, dày đặc cỏ hoang dại... xung quanh có khe suối bao bọc. Từ địa bàn Khe Hó, Ban chỉ huy tiểu đoàn cùng với đồng chí Cương - Huyện uỷ Hướng Hoá nghiên cứu địa hình, mở đường theo triền núi đông Trường Sơn và quyết định địa điểm đặt trạm. Trạm này cách trạm kia khoảng một ngày đường đi bộ, mỗi trạm biên chế một trung đội. Trạm đầu tiên được đặt ở Hàm Nghi một trong những căn cứ chống Pháp trong phong trào Cần Vương vào cuối thế kỷ XIX; từ nam sông Bến Hải đến bắc đường 9 có các trạm Bãi Hà, Cơn Tăm, Xã Ruộng... Các trạm này do Đoàn 559 trực tiếp tổ chức, xây dựng. Từ nam đường 9 đến giáp giới tỉnh Quảng Nam - Đà Nẵng tổ chức công trường Lê Hồng Phong. Công trường này còn có tên thường dùng là Đoàn Bắc Sơn. Đoàn Bắc Sơn có một số cán bộ chủ chốt như: Hồ Lôi, Hồ Sâm, Hồ Bảy, Trần Quả... do đồng chí Lê Hành phụ trách. Dựa vào đồng bào các dân tộc Vân Kiều, Pa Cô của huyện Hướng Hoá, Đoàn Bắc Sơn đã huy động được 400 con trâu, 500 nam nữ thanh niên tự nguyện thoát ly gia đình làm công tác vận tải. Từ nam đường 9 vào Quảng Nam, tổ chức thành 16 trạm. Hầu hết cán bộ phụ trách trạm đều là thanh niên dân tộc. Đoàn Bắc Sơn tiếp nhận hàng hoá của Đoàn 559 do Thượng tá Võ Bẩm phụ trách tại nam Hướng Hoá, rồi từ nam Hướng Hoá chuyển vào cung cấp cho mặt trận Trị - Thiên, khu V. Đoàn Bắc Sơn hoạt động từ cuối năm 1959 đến năm 1963, cuối năm 1963 Đoàn Bắc Sơn chuyển giao toàn bộ nhiệm vụ vận tải cho Đoàn 559. Khu uỷ khu 5 điều động 2 đại đội vận tải: Bắc Sơn và Bình Sơn vào làm công tác vận tải ở khu V.

          Tuyến giao thông vận tải 559 từ bờ nam sông Bến Hải vào miền Nam phải ngang qua vùng địch kiểm soát với hàng loạt đồn bốt được canh phòng cẩn mật. Ngoài đồn bốt canh gác, địch còn dùng xe cơ giới tuần tra thường xuyên trên đường 9... hoặc tung quân lùng sục tìm dấu vết đi lại của ta ở các khu rừng năm hai bên đường.

          Vì vậy, để mở đường và tổ chức vận tải từ miền Bắc vào miền Nam lúc này ta phải tổ chức lực lượng trinh sát bám chặt mọi hoạt động của địch, trước khi giao liên dẫn cán bộ và các đoàn vận tải qua đường...

          Để giữ tuyệt đối bí mật, người đi trước phải cào lá rừng trên lối đi, người đi sau phải khoả lá lấp lại như cũ. Phải xoá sạch vết chân trên từng hòn đá “mồ côi” nổi trên mặt suối. Khi vượt qua sông Ba Lòng giao liên ta phải dùng thuyền thúng, xuồng độc mộc, dùng chiếc “cầu dây song” để đưa từng gùi hàng, từng người hành quân... Mỗi lần qua các điểm vượt tại các cầu: Khe Xom, Cu Tiền, Xóm Ròn... trên đường 9 - đoạn từ Km41 đến Km47 để tránh các đồn bốt và sự tuần tra của địch, giao liên ta phải bố trí người gác, khi nhận được tín hiệu như “giật giây”, bắn đá bằng “ná cao su”... do người gác báo, giao liên mới dẫn cán bộ vượt qua... “Đi không dấu, nấu không khói, nói không nghe tiếng” là những quy định mà mỗi cán bộ, chiến sĩ, công dân vận tải phải chấp hành nghiêm ngặt, không được trái lệnh của cán bộ giao liên dẫn đường...

          Vì sự nghiệp giải phóng quê hương, giải phóng miền Nam, cán bộ công nhân viên ngành Giao thông vận tải - Bưu điện hoạt động ở bờ Nam sông Bên Hải trong chặt đường đầu của cuộc trường kỳ kháng chiến chống Mỹ, cứu nước đã chịu đựng, chống chọi quyết liệt với mọi loại kẻ thù: biệt kích địch, thú dữ, muỗi, bệnh tật để chuyển từng khẩu súng, viên đạn... cho chiến trường miền Nam, đưa gần 550 cán bộ, chiến sĩ (tiếng riêng 6 tháng cuối năm 1959) từ miền Bắc vào nhận nhiệm vụ ở Trị Thiên, khu V...

          Trên cơ sở quán triệt Nghị quyết 15 của BCH TW Đảng, Hội nghị Tỉnh uỷ đề ra hai chủ trương lớn: xây dựng căn cứ miền núi và thành lập lực lượng vũ trang cách mạng.

          Phục vụ nhiệm vụ mới, đòi hỏi lực lượng giao bưu tỉnh phải được củng cố, tăng cường. Sau Hội nghị Tỉnh uỷ, mỗi huyện trong tỉnh đều tuyển thêm người làm cán bộ giao bưu và do một đồng chí Thường vụ Huyện uỷ hoặc Huệyn uỷ viên phụ trách. Tại điểm vượt quốc lộ 9, ta thành lập bộ phận đạo lộ gồm 10 cán bộ chiến sĩ, với nhiệm vụ nắm chắc tình hình địch trước khi đưa các đoàn cán bộ, vận tải hàng hoá vượt qua đường. Tổ đạo lộ còn có nhiệm vụ tổ chức lực lượng xoi thêm đường mới vượt qua đường 9, để khi đường vượt này bị lộ thì ta chủ động chuyển qua đường khác ngay, bảo đảm thông đường trong mọi trường hợp. Tuyến giao thông trên biển của tỉnh cũng được bổ sung gồm 14 người, chia làm 2 đội: Đội A do đồng chí Võ Mnạh đội trưởng trực tiếp phụ trách, Đội B do đồng chí Lê Phú Bí thư chi bộ phụ trách.

          Tại cuộc hội nghị học tập, quán triệt Nghị quyết 15 và Nghị quyết Hội nghị Tỉnh uỷ (5/1959) của ngành giao bưu tỉnh, đồng chí Trương Chí Bông, Bí thư Tỉnh uỷ đến dự và phát biểu ý kiến, nhấn mạnh nhiệm vụ của ngành giao bưu trong giai đoạn mới. Đồng chí chỉ rõ: người làm cán bộ giao bưu phải luôn luôn có tư tưởng chủ động tiến công địch. Ngoài nhiệm vụ bảo đảm giao thông liên lạc, dẫn đường cho cán bộ, bộ đội, các đoàn dân công vận tải, các cán bộ giao bưu còn là người luôn nắm chắc tình hình địch để có kế hoạch chủ động đối phó. Trương trường hợp bị địch phục kích, tập kích, các đồng chí là người phải nổ súng đánh vào kẻ thù, giải vây, bảo đảm an toàn cho các đoàn theo đường dây...

          Đến cuối năm 1960, một vùng miền núi rộng lớn của Quảng Trị gồm có 7 xã của huyện Xà muồi, 3 xã của Nam Hướng Hoá, 5 xã của quận Ba Lòng và một số bản của xã Hải Phúc - Hải Lăng được giải phóng - hình thành vùng căn cứ địa liên hoàn có ý nghĩa quyết định đối với sự phát triển của phong trào cách mạng hai tỉnh: Quảng Trị, Thừa Thiên.

          Ngày 20/12/1960 “Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam” được thành lập, các căn cứ địa cách mạng tại chỗ được khôi phục, mở rộng. Từ miền Bắc, đường vận tải chiến lược vào Nam, đường bộ 559, đường biển 759 hình thành và phát triển.

          Nam, Bắc Hướng Hoá được giải phóng, vùng căn cứ cách mạng của tỉnh Quảng Trị được mở rộng nối liền với vùng giải phóng miền núi Thừa Thiên, khu V... thông với khu vực Vĩnh Linh - miền Bắc xã hội chủ nghĩa và vùng giải phóng Hạ Lào, tạo thế đứng cho bộ đội địa phương, bộ đội chủ lực của ta đánh địch ở đồng bằng, đồng thời lập cầu nối giao lưu với miền Bắc, đảm bảo  nhu cầu vận tải ngày càng tăng từ hậu phương lớn miền Bắc cho tiền tuyến lớn miền Nam. Con đường bộ 559 từ Khe Hó khu vực Vĩnh Linh chạy theo dãy Trường Sơn ngang qua địa bàn Hướng Hoá - Quảng Trị, đến tận các tỉnh Nam Trung Bộ, Tây Nguyên, từ chỗ chỉ là những đường nhỏ hẹp dùng cho người đi bộ, mang gùi trên lưng đã được bảo vệ, mở rộng... Con đường chiến lược đó ngày càng được phát triển đúng như Nghị quyết của Bộ Chính trị, Quân uỷ Trung ương (5/1959) đã ghi rõ: “Con đường chi viện cho miền Nam, cho bạn Lào, Campuchia, cơ bản nhất, chủ yếu nhất, có ý nghĩa chiến lược vô cùng quan trọng trước mắt và lâu dài”.

          Đại hội đại biểu Đảng bộ Quảng Trị lần thứ V được triệu tập tại bản Tu Pông - Hướng Hoá, khai mạc vào ngày 30/6/1961. Căn cứ vào tình hình đặc điểm của địa phương và với tư tưởng chiến lược tiến công, Đại hội đề ra phương hướng nhiệm vụ mới: Phát triển hướng tiến công từ rừng núi về nông thôn đồng bằng, đánh phá ấp chiến lược, giành dân, giành quyền làm chủ, đưa phong trào cách mạng của địa phương tiến kịp với phong trào khu V và toàn miền. Về chỉ đạo, nắm vững trọng tâm chỉ đạo đồng bằng, nhưng phải hết sức coi trọng miền núi.

          Đại hội V đã thành công tốt đẹp, trong đó có sự đóng góp phục vụ của bộ phận giao bưu như tìm địa điểm họp, đưa đón đại biểu, vận chuyển lương thực thực phẩm cung cấp cho các đại biểu trong suốt thời gian dự đại hội... Ngay sau khi đại hội kết thúc, bộ phận giao bưu lại tổ chức đưa các đại biểu trở về các địa bàn kịp thời truyền đạt Nghị quyết của đại hội đến tận từng cơ sở, đảng viên.

          Cùng trong thời gian trên, bộ đội giải phóng của ta phối hợp với bộ đội Pha thét - Lào mở chiến dịch Tà Khống, tiến công tuyến phòng thủ của quân nguỵ Lào dọc đường 9, giải phóng khu vực từ Huội San đến Mường Pha Lan dài gần 100km nối liền Trung Lào với Hạ Lào.

          Chiến dịch Tà Khống thắng lợi tạo điều kiện rất thuận lợi cho tuyến vận tải chiến lược của đoàn 559 “lật cánh” từ đông Trường Sơn sang tây Trường Sơn phát triển, mở đường thồ bằng xe đạp từ nam đường 9 vào rừng thông tây Thừa Thiên.

          Để tăng thêm khối lượng hàng hoá vận tải vào chiến trường miền Nam, sau khi có sự thống nhất phối hợp giữa Cục Hàng không Việt Nam với Đoàn 559, được sự đồng ý của nước bạn Lào, Bộ Tổng Tham mưu giao nhiệm ụ cho bộ đội công binh khôi phục, tu sửa sân bay Tà Khống - Sê Pôn, đồng thời giao cho lực lượng không quân của ta tổ chức vận tải bằng đường không từ hậu phương miền Bắc vào sân bay Tà Khống góp phần lập chân hàng cho đoàn 559. Quân của Đoàn 559 dùng xe thồ chở vũ khí từ Tà Khống vào La Lay, Mường - Nòng. Tỉnh chủ trương cho Ban giao bưu tỉnh huy động dân công ở vùng núi theo đường dăy Bắc Sơn tiếp nhận hàng và vận chuyển vào miền núi Thừa Thêin, Quảng Nam - Đà Nẵng.

          Cuộc chiến đấu của ta ở miền Nam và việc mở đường vận chuyển từ Bắc vào Nam quan hệ mật thiết với nhau, bè lũ - Mỹ - nguỵ “đánh hơi” được, chúng cử một số tướng tá trong Bộ Chỉ huy quân sự ra Quảng Trị nghiên cứu và quyết định mửo các trận càn lớn lên miền núi Hướng Hoá. Địch mở chiến dịch mang tên “Lê Lợi” kéo dài một tháng (từ tháng 11 đến tháng 11/1962) và chiến dịch Phượng Hoàng.

          Các trận càn của địch tuy có gây ra nhiều thiệt hại về kinh tế, đừoi sống của  nhân dân ở một số nơi, song về cơ bản các mục tiêu của chúng đặt ra đều không đạt được. Quân và dân ta ở miền núi với tinh thần vừa xây dựng khu căn cứ, vừa tổ chức đánh địch, gây cho chúng nhiều thiệt hại, cuối cùng vẫn bảo vệ được khu căn cứ. ngoài việc duy trì được 500 thanh niên tham gia đội vận chuyển liên tỉnh Trị - Thiên, Hướng Hoá còn huy động hàng ngàn lao động thay nhau phục vụ tuyến đường 559 với thời gian kéo dài từ 3 đến 6 tháng...

          Đi đôi với càn quét, điều chỉnh quân chiếm đóng ở các vị trí then chốt: La Vang, Đông Hà, Đường 9... Mỹ - Diệm tiến hành xây dựng con đường quân sự chạy song song với quốc lộ 1A từ giới tuyến vào Mỹ Chánh, đồng thời tu sửa, nâng cấp các con đường phục vụ cho quân sự như: đường từ Đại Áng lên Trạng Tre, Cùa; đường từ An Đôn đi Cùa; đường từ Tích Tường lên Trái; đường từ La Vang lên Phước Môn, Khe Hói; đường từ Diên Sanh đi Trường Phước lên Hòn Linh - Bợc Lở, Bến Mưng; đường từ Bến Đá lên Khe Mương giáo đường Ba Đa; đường từ Mỹ Chánh lên Tân Lương; đường Vĩnh Thuỵ; đường từ Cùa sang Ba Lòng; xây cầu Trí Bưu - Quy Thiện ngang qua sông Nùng; ở Thượng Xá, chúngc ho xây Cầu Rôộc ngang qua sông Nhùng, xây dựng hệ thống cầu cống dọc trục đường 9 một cách kiên cố hơn trước.

          Trung ương Cục miền Nam quyết định phát động trên toàn miền Nam phong trào “Thi đua ấp Bắc, giết giặc lập công”. Hưởng ứng phong trào đó, đêm 8 rạng ngày 9/02/1964, được sự phối hợp của một đơn vị đặc công Quân khu, C55 - Đại đội bộ đội địa phương tỉnh đã đột nhập vào quận lỵ Ba Lòng và chỉ sau 25 phút quân ta đã tiêu diệt và làm chủ hoàn toàn quận lỵ.

          Bản tin chiến thắng quận lỵ Ba Lòng được cán bộ giao liên tiếp nhận và cấp tốc chuyển đến các địa bàn, đơn vị cơ sở trong tỉnh, tạo nên không khí sôi nổi về chiến thắng Ba Lòng khắp mọi nơi.

          Được tin Ba Lòng giải phóng, nhiều người ở đồng bằng, đô thị, kể cả một số người ở thành phố Huế cũng tìm đến vùng căn cứ của ta, nhờ cán bộ giao thông liên lạc tổ chức cho lên Ba Lòng để tìm gặp người thân hoặc nhờ cán bộ mặt trận chuyển hộ thư, lời nhắn tin cho chồng con “tập kết”.

          Luật cấm đi rừng, lên núi của Mỹ - nguỵ không còn hiệu lực. Ngư dân vùng biển, nông dân vùng ruộng rủ nhau có giao liên cơ sở dẫn đường lên rừng lấy mây, lá, đốn củi rất đông với một nguyện vọng thầm kín là tìm gặp người thân đi tập kết, tìm hiểu chủ trương, chính sách của Đảng và Mặt trận, chuẩn bị cho con em của mình tham gia kháng chiến.

          Bằng con đường đi lại hợp pháp, đồng bào ở vùng đồng bằng đã cung cấp cho cán bộ, bộ đội giải phóng về tình hình địch, lai lịch của một số tên ác ôn. Mỗi lần lên rừng, đồng bào lại mang lương thực, thực phẩm tiếp tế cho cán bộ, bộ đội của ta hiện đang gặp khó khăn, thiếu thốn.

          Tháng 12/1963 BCH TW Đảng mở Hội nghị lần thứ 9. Để tiếp thu và thực hiện quyết định trên, Hội nghị Tỉnh uỷ 4/1964 tại Ro Ró, - Hướng Hoá quyết định phát động phong trào đồng khởi nông thôn đồng bằng. Hội nghị coi việc khẩn trương chuẩn bị thực lực cách mạng phát động đồng khưỏi nông thôn đồng bằng là nhiệm vụ trung tâm cấp bách và sống còn của toàn Đảng bộ, quân và dân toàn tỉnh.

          Ban Giao - Bưu Quảng Trị được thành lập từ năm 1962. Từ đó đến mùa xuân 1964, dưới sự lãnh đạo và chỉ đạo trực tiếp của Tỉnh uỷ, Ban Giao - Bưu đã hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao. Được khu vực Vĩnh Linh và tỉnh Quảng Bình chi vệin 50 cán bộ giao thông, bưu điện, đưa tổng số cán bộ, công nhân viên của Ban lên 180 người (163 nam, 17 nữ) trong đó có 37 anh chị em người dân tộc Vân Kiều, Pacô. Tất cả mọi n gười trong Ban đều hồ hỡi, phấn khởi, động viên nhau vượt qua khó khăn, ác liệt, một lòng phục vụ cuộc đồng khởi nông thôn đồng bằng.

          Cuộc đồng khởi bắt đầu từ đêm mồng 05/7/1964 nổ ra tại Cùa (Cam Lộ) và sau đó liên tiếp nổ ra ở nhiều nơi, đưa vùng giải phóng nông thôn đồng bằng áp sát thị xã tỉnh lỵ. Ngày 10/02/1965, ngày nổi dậy của đồng bào các thôn: Kinh Môn, Hải Cụ, Giang Phao (Gio Linh), cờ Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam được kéo lên tại đồn Giang Phao, đánh dấu vùng giải phóng miền Nam đã nối liền với miền Bắc xã hội chủ nghĩa.

          Về tổ chức, giữa tháng 12/1964, Ban Giao - Bưu được chuyển thành ban Giao - Bưu - Vận tỉnh Quảng Trị, đồng chí Hùng Sơn (tức Võ Văn Ấp) được Tỉnh uỷ cử làm Trưởng ban,d dồng chí Trường Thọ (tức Đào Bá Nghĩa) được cử làm Phó ban. Trong Ban còn có một số cốt cán như: Nguyễn Kiểm, Nguyễn Thanh Phiến, Dương Thanh, Đoàn Thế Ẩn, Nguyễn Phụng, Nguyễn Cẩm, Hồ Thái, Nguyễn Khánh (Lô), Trần Hữu Đinh v.v.. Ban Giao - Bưu - Vận Quảng Trị đã tổ chức tuyến vận tải tiếp nhận hàng của Ban Thống nhất Trung ương chi viện cho Trị - Thiên. Tuyến vận tải này được tổ chức thành 4 trạm: B4, B3, B2, B1. Mỗi trạm đều có kho hậu cần và ban chỉ huy điều hành vận tải. B4 đóng tại Cù Bai do đồng chí Phiếu làm Trạm trưởng, B3 đóng tại mỗi địa điểm ở thượng nguồn sông Cam Lộ do đồng chí Sáng làm Trạm trưởng, B2 đóng tại Khe Đoác do đồng chí Khánh làm Trạm trưởng, B1 do đồng chí Cát làm Trạm trưởng. Lực lượng vận tải ở 3 trạm B4, B3, B2 được điều động từ 4 đại đội dân công hoả tuyến của tỉnh Quảng Bình và một trung đội thanh niên xung phong của khu vực Vĩnh Linh. Ngoài việc đưa đón cán bộ, bộ đội từ miền Bắc vào miền Nam và ngược lại, bình quân mỗi ngày mỗi trạm còn phải vận chuyển 1,5 tấn hàng từ trạm của mình vào trạm kế tiếp.

          Điểm vượt của các đoàn qua đường 9 được Đội đạo lộ do đồng chí Hoàng Nhân làm Đội trưởng thường được tổ chức vào đoạn đường giữa Km37 và Km38 - đường 9 vào lúc 1-2 giờ sáng. Các đoàn sau khi vượt qua đường 9, tiếp tục hành quân ngang qua khu dinh điền Đùng Đồng rồi xuống thuyền xuôi theo dòng sông Ba Lòng. Số thuyền nào chở hàng cho Quảng Trị thì rẽ vào Khe Su, số thuyền nào giao hàng cho Thừa Thiên thì chuyển vào Ba Đa.

          Bọn địch đóng ở Kho Muối Km41 phát hiện được dấu vết của ta qua các điểm vượt, chúng cho trung đội tham báo tổ chức phục kích.. Trước tình hình đó, Đội đạo lộ dựa vào số đồng bào làm ăn sinh sống hai bên đường 9 giúp đỡ, cảnh giới, bảo vệ. Nhờ vậy, các đoàn của ta vượt qua đường 9 đều an toàn. Giữa năm 1965, khi địch tăng cường thêm lực lượng cho đồn 41, Đội đạo lộ chuyển các điểm vượt lên chân động Ca Lu, luồn dưới gầm cầu Ba Ngoặt, vượt sông Đakrông, đến bản Mò Ó, chuyển hàng lên núi cất giấu, phân phát cho các đơn vị...

          Tính từ cuối năm 1964 đến tháng 8/1965, tuyến vận tải này đã tiếp nhận, vận chuyển vào mặt trận Trị - Thiên được 300 tấn hàng, phần lớn là vũ khí, thuốc chữa bệnh, quân trang và dụng cụ sản xuất nông nghiệp cho đồng bào các dân tộc miền núi Trị - Thiên.

            II. GIAI ĐOẠN TỪ GIỮA NĂM 1965 ĐẾN GIỮA NĂM 1975

          Từ đầu năm 1965, trước sự phá sản xuất chiến lược “Chiến tranh đặc biệt”, đế quốc Mỹ chuyển sang dùng chiến lược “Chiến tranh cục bộ”. Mục tiêu chủ yếu của chiến lược “Chiến tranh cục bộ” là đánh bại cách mạng miền Nam trong vòng 25-30 tháng. Biện pháp chủ yếu của chiến lược mới của Mỹ ở miền Nam là “tìm và diệt”, sau đó là “tìm diệt và bình định” được coi là chiến lược hai gọng kìm: đưa quân Mỹ ồ ạt vào miền Nam, đồng thời dùng không quân và hải quân đánh phá miền Bắc hòng ngăn chặn sự chi viện từ miền Bắc vào Nam, cô lập và đè bẹp cách mạng miền Nam, làm suy yếu căn cứ địa cách mạng của cả nước, hậu pưhơng lớn của cuộc kháng chiến.

          Trước tình hình đó, ngày 22/3/1965, Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam ra lời kêu gọi: “Dù 10 năm, 20 năm hay lâu dài hơn nữa, dù có phải chịu đựng khó khăn gian khổ, chúng ta cũng sẵn sàng quyết đánh, đánh đến cùng, đánh đến khi nào không còn một bóng giặc Mỹ trên đất nước ta mới thôi”.

          Trước tình hình và nhiệm vụ của giai đoạn cách mạng mới, Ban Giao - Bưu - Vận tỉnh đã tập trung phục vụ nhiệm vụ chính trị là “Giữ vững và phát triển thế tiến công, kiên quyết tiến công địch, với phương châm đánh lâu dài, dựa vào sức mình là chính..., tranh thủ thời gian cơ giành thắng lợi quyết định trong thời gian ngắn trên chiến trường”.

          Chỉ trong 28 ngày của mùa xuân 1965, quân dân Quảng Trị đánh 82 trận, trong đó có thành tích phá sập 3 cầu nhằm cắt đứt giao thông địch trên các tuyến, loại khỏi vòng chiến đấu trên một ngàn tên địch và phá huỷ phương tiện vận chuyển của chúng gồm 26 GMC, 10M113...1

          Phối hợp với hoạt động vũ trang, hàng ngàn người ở đồng bằng đã tham gia phá hoại giao thông địch.

          Từ tháng 3 đến cuối năm 1965, cán bộ công nhân viên Ban Giao - Bưu - Vận tỉnh tích cực phục vụ cuộc “Hội nghị nhân dân du kích chiến tranh của tỉnh”, “Đại hội lần thứ nhất của Hội nông dân giải phóng tỉnh Quảng Trị”, “Đại hội Đảng bộ Quảng Trị lần thứ VI”, cùng với các cơ quan đơn vị cấp tỉnh đối phó với trận càn lớn của Mỹ - nguỵ tái chiếm chiến khu Ba Lòng từ trung tuần tháng 8/1965...

          Sau khi chiến khu Ba Lòng và một số vùng tiền chiến khu Ba Lòng và một số vùng tiền chiến khu vực  bị Mỹ - ngụy chiếm đóng, phong toả, vận tại gặp nhiều khó khăn, nhưng công tác giao liên vẫn duy trì hoạt động, điểm vượt qua đường 9 dời lên phía trên cầu Đầu Mầu. Lúc này việc vận tải hàng hoá cho Trị Thiên do hậu cần quân khu Trị - Thiên - Huế đảm nhận. Để kịp phục vụ chiến trường Trị - thiên nóng bỏng, Trung ương Đoàn Thanh niên lao động Việt Nam tăng cường đơn vị Thanh niên xung phong (gồm 500 chiến sĩ và cán bộ) gọi là K53, do các đồng chí võ Phi Diển, Nguyễn Hữu Đến chỉ huy. K53 trực thuộc hậu cần quân khu, chuyên làm nhiệm vụ nhận khối lượng hàng do Ban Thống nhất chi viên rồi vận chuyển vào cho Trị Thiên.

Để quán triệt Nghị quyết Hội nghị lần thứ 12 BCH TW Đảng, Tỉnh uỷ Quảng Trị mở Hội nghị bất thường 01/1966. Hội nghị soát xét lại tình hình ở địa phương và nhất trí nhận định: “Địch hấp tấp đưa quân Mỹ và chư hầu đến Quảng Trị là ở trong thế bị động, đối phó với bộ chủ lực của ta ở mặt trận đường 9. Do đó, tuy lực lượng địch đông, nhưng nông thôn đồng bằng vẫn sơ hở, tương quan lực lượng giữa ta và địch trên chiến trường nông thôn đồng bằng Quảng Trị vẫn không thay đổi”.

Căn cứ tình hình nhiệm vụ mới, Hội nghị Tỉnh uỷ quyết định chia tách Ban Giao - Bưu - Vận thành 2 ban. Ban Kinh tế và Ban Giao - Bưu.

Ban Kinh tế do đồng chí Hùng Sơn, Tỉnh uỷ viên làm Trưởng ban; hai đồng chí: Thuận (tức Hoàng Cư), Phú (tức Nguyễn Hạt) làm Phó Trưởng ban và một số cán bộ do Trung ương chi viện như: Do (tức Lê Mậu Cẩm), Trường Sinh, Trần Lê Vinh, Nguyễn Chiến, trần Cuộc, Hải Sơn v.v...

Ban kinh tế có nhiệm vụ: tuyên truyền vận động nhân dân vùng giải phóng tăng gia sản xuất, xây dựng căn cứ địa cách mạng; mở chiến dịch góp gạo nuôi quân; tổ chức thi mua, khai thác nguồn lương thực, thực phần vùng địch tạm chiến...Lực lượng vận tải của Ban có trên 400 người1 hình thành 3 đại đội vận tải, một trung đội đạo lộ. Ngoài lực lượng trên, được sự đồng ý của Tỉnh uỷ, hàng tháng, hàng quý, Ban còn huy động 3 , 4 đợt dân công ở ngoài vùng giải phóng, lực lượng cán bộ, công nhân viên ở các cơ quan, bộ đội ở các đơn vị cùng tham gia mở các chiến dịch vận chuyển.

Tháng 4/1966, Bộ Chính Trị và Quân uỷ Trung ương quyết định tách Trị - Thiên ra khỏi khu V, thành lập Khu uỷ Trị - Thiên, bao gồm các Đảng bộ: Quảng Trị, Thừa Thiên đặt dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo của Ban Chấp hành Trung ương và Bộ Chính trị. Bộ Chính trị uỷ nhiệm cho Quân uỷ Trung ương trực tiếp chỉ đạo mọi mặt đối với Khu uỷ trị - Thiên. Căn cứ vào nhiệm vụ của Bộ Chính trị giao cho Quân uỷ Trung ương quyết định thành lập khu Trị - thiên đặt dưới sự lãnh đạo trực tiếp của Khu uỷ Trị - Thiên, do Thiếu tướng Trần Văn Quang - Uỷ viên dự khuyết Ban Chấp hành Trung ương Đảng làm Bí thư Khu uỷ, kiêm Tư lệnh Quân khu. Quân uỷ Trung ương cũng xác định nhiệm vụ cho chiến trường Trị - Thiên là “Tiêu diệt và làm tan rã phần lớn quân ngụy, tiêu diệt một bộ phận quân Mỹ, ra sức chuẩn bị lực lượng chính trị và lực lượng vũ trang...để phục vụ kế hoạch tổng công kích và tổng khởi nghĩa khi có điều kiện chín muồi. Cắt đứt giao thông chiến lược của địch, xây dựng đường hành lang của ta, giành thắng lợi về mọi mặt và tạo nên một tình thế mới trên chiến trường Trị - Thiên”1.

          Để buộc chủ lực cơ động chiến lược của Mỹ và ngụy quyền Sàu Gòn phải đối đầu với khối chủ lực của ta ở Miền Bắc, tạo điều kiện thuận lợi cho chiến trường khu V, Nam bộ, Tây Nguyên mà trực tiếp là vùng đồng bằng Trị - Thiên tiến công và nổi dậy, tháng 6/1966, Quân uỷ Trung ương quyết định thành lập mặt “Mặt trận đường 9 - Bắc Quảng Trị” gọi tắt là “Mặt trận B5”. Nhiệm vụ chỉ yếu của mặt trận là: “Tạo nên một hướng tiến công mới của ta vào nơi yếu của địch trên chiến trường miền Nam, buộc địch phải phân tán lực lượng lên chiến trường rừng núi, thực hiện tiêu diệt chiến lược đối với quân cưo động chiến lược của địch bằng lực lượng chủ lực mạnh của ta ở miền Bắc, tạo điều kiện thuận lợi cho các chiến trường khác, trực tiếp nhất là đồng bằng  Trị - Thiên, làm cho địch bị đồng càng bị động hơn, ngăn chặn âm mưu mở rộng chiến tranh trên bộ ra Bắc, đặc biệt là vùng Quân khu IV của ta”.

          Mặt trrận đường 9 - Bắc Quảng Trị gồm 3 huyện Gio Linh - Cam Lộ - Hướng Hoá. Đặc điểm của chiến trường đường 9 - Bắc Quảng Trị đối với ta là cửa ngõ để tiến vào giải phóng miền Nam; đối với địch là tuyến đầu ngăn chặn lực lượng cách mạng miền Bắc xã hội chủ nghĩa.

Với đặc điểm đó, sự đi lạic của ta ở khu vực này rất khó khăn.Việc vận tải của Ban Kinh tế chỉ đủ cung cấp cho lực lượng bộ đội, cán bộ của ta bám trụ hoạt động tại chỗ.

          Với ý nghĩa đó, tầm quan trọng chiến lược đường 9 - Bắc Quảng Trị, mặt trrận B5 thực hiện phương châm căng địch ra mà đánh, phối hợp đắc lực với các chiến trường, hỗ trợ có hiệu quả với phong trào du kích. Trước mắt, mặt trận tập trung lực lượng mở cuộc tiến công vào những nơi hiểm yếu trên tuyến phòng ngự đường 9 - Bắc Quảng Trị của địch để mở thông đường vận chuyển.

Đế quốc Mỹ và tay sai biết rõ điều này, nên ngày nào Mỹ còn ở miền Nam Việt Nam thì ngày đó chúng còn duy trì, củng cố tuyến phòng thủ đường 9 - Bắc Quảng Trị. Chúng sẽ nổ lực với mức cao nhất nhằm chặt đứt tuyến đường vận chuyển chiến lược Bắc - Nam của ta.

Dưới sự chỉ đạo của Ban Kinh tế khu Trị - Thiên1 , Ban kinh tế Quảng trị chuyển thành phân ban kinh tế. Từ tháng 9/1966 đến tháng 10/1968, trong hoàn cảnh bom đạn ác liệt, bị địch tìm đủ mọi cách để cắt đứt nguồn tiếp tế của cuộc kháng chiến, Phân ban kinh tế Quảng Trị vẫn tổ chức, động viên được nhân dân đóng góp, thu mua, khai thác ở vùng đồng bằng Triệu hải gần 4.000 tấn gạo, trong đó có 2.550 tấn do nhân dân tự nguyện đóng góp, trên 1.000 tấn do cán bộ, nhân viên Phân ban kinh tế thu mua, khai thác trong vùng địch tạm chiếm, kịp thời cung ứng cho lực lượng cán bộ, bộ đội đứng chân hoạt động trên địa bàn và khoảng 1.000 tấn gạo nhập vào các kho dự trữ của tỉnh, đủ phục vụ chiến dịch xuân Mậu Thân 1968.

Với việc đánh phá miền Bắc bằng không quân, hải quân và việc xây dựng hàng rào điện tử ở phía Nam giới tuyến, đế quốc Mỹ gây cho ta nhiều khó khăn và thiệt hại, nhưng với lòng dũng cảm, thông minh, sáng tạo của quân và dân ta trong đó có lực lượng giao bưu vận, kẻ địch vẫn không thể ngăn cản được sự chi viện của miền Bắc cho miền Nam, cho Trị - Thiên. Căn cứ vào đặc điểm, tình hình và nhiệm vụ chiến trường Trị - Thiên, tháng 6/1967, Trung ương Đảng chủ trương giải thể hai Ban Tỉnh uỷ của Quảng Trị và Thừa Thiên, thành lập các Ban cán sự và Đảng uỷ trực thuộc Khu uỷ Trị - Thiên.

Thực hiện chủ trương đó, tỉnh Quảng Trị chia thành 3 mặt trận:

+ Mặt trận Bắc Quảng Trị gồm có Gio Linh, Cam Lộ.

+ Mặt trận Nam Quảng Trị gồm có Triệu Phong, Hải Lăng, thị xã Quảng Hà.

+ Mặt trận miền núi Trị - Thiên gồm Nam - Bắc Hướng Hoá và các quận miền núi Thừa Thiên.

Thực hiện Quyết định số 63/QĐ-KU  ngày 05/6/1966 của Khu uỷ Trị - Thiên, Ban Giao bưu Quảng Trị, Ban Giao bưu Thừa - Thiên do đồng chí Nguyễn Tý làm Trưởng Ban, hai đồng chí Trần Đức Thố, Trường Thọ làm Phó Ban.

Đồng chí Trường Thị Phó ban, được Ban phân công đặc trách khu vực phía Bắc khu Trị - Thiên gồm Quảng Trị và 2 huyện Phong Điền, Quảng Điền.

Thực hiện Quyết định số 67/QĐ-KU về việc thành lập Phòng thông tin VTĐ khu uỷ. Đồng chí Phạm Chí (lạc) được cử giữ chức trưởng phòng, hai đồng chí được cử giữ chức phó phòng: Trần Thành phụ trách tổ chức, Phạm Thuyền (Việt Hùng) phụ trách khai thác.

Ngoài một số cán bộ được điều động lên Khu, số còn lại được điều động về các mặt trận thuộc địa bàn Quảng Trị cùng với phong trào cách mạng đang phát triển. “Mạng lưới giao thông liên lạc giữa thôn với xã, giữa xã với xã, giữa xã và huyện được hình thành đều khắp”1.

Dưới sự chỉ đạo của Ban cán sự hoặc Đảng uỷ Mặt trận, các trạm giao bưu trước đây tuy đã được bổ sung mỗi trạm có từ 10 đến 15 cán bộ, nhân viên, đến lúc này vẫn thiếu người phục vụ. Với tinh thần “Địa phương phải phục vụ bộ đội chủ lực để đánh sập từng mảng tuyến phòng ngự của địch trên tuyến đường 9, mở hành lang cho quân chủ lực của ta tiến vào phía Nam”. Cán bộ giao bưu lúc này như con thoi, vừa đi công tác về đến trạm là phải đi ngay, không có thì giờ nghỉ ngơi như trước. Khi có công văn hoả tốc đến, cán bộ giao bưu phải chuyển ngay không kể ngày đêm. Mỗi chuyến đi công tác như vậy thường được trạm bố trí 3 người, có mang theo vũ khí để bảo vệ, tự vệ.

Tại các cơ sở, hầu hất nam nữ thanh niên và một số trung niên khoẻ mạnh được Chi đoàn Thanh niên nhân dân cách mạng làm nòng cốt, tổ chức thành các đội vận chuyển vũ khí, lương thực, thực phẩm, tải thương. Hội Phụ nữ làm nòng cốt lo việc hậu cần tại chỗ. Lực lượng ngư dân trên các vạn đò chuẩn bị thuyền và  người, khi có lệnh huy động mọi  người lên đường đi làm nhiệm vụ phục vụ các mặt trận.

Ở Hướng Hoá, nhân dân các dân tộc vừa trải qua nạn đói khủng khiếp kép dài 2 - 3 năm liền do bom đạn, chất độc hoá học của đế quốc Mỹ gây ra, đến trước tết Mậu Thân, sức khoẻ của mọi người ở đây chưa được bình phục. Thế nhưng, khi được tuyên truyền phổ biến về tình hình và nhiệm vụ mới, đông đảo đồng bào các dân tộc miền núi đã đăng ký ghi tên đi phục vụ ở tuyến hành lang chiến lược Bắc - Nam và các mặt trận.

Đợt đầu (01/1968) Hướng Hoá đã huy động được trên 3.000 dân công vận chuyển. Ngoài lực lượng đó, Hướng Hoá còn đóng góp 2.000 thanh niên đi làm nhiệm vụ cùng một đại đội công binh mở đường phục vụ mặt trận Huế.

Về lương thực, thực phẩm: nhân dân các huyện, thị xã ở đồng bằng đều hăng hái đóng góp với khối lượng lớn. Tính riêng ở mặt trận 7(mặt trận nam Quảng Trị), trước khi mở chiến dịch Mậu Thân 1968, đã huy động được 1.242 tấn gạo. Số gạo được vận chuyển đến tập kết tại các xã, thôn nằm ở hai tuyến hành lang vận chuyển từ vùng biển Gia Đẳng lên Hải Vĩnh, Hải  Xuân, Hải Thượng, Hải Tân, Hải Hoà...

Đêm đêm được các đội đạo lộ bảo vệ, dẫn đường ở các tuyến  hành lang, hàng trăm (có khi đông hàng ngàn) người gồm thanh niên xung phong, bộ đội, cán bộ, dân công ở các vùng căn cứ tiếp nhận, đưa lên dự trữ ở chiến khu, kịp thời cung cấp cho bội đội, cán bộ.

Đúng đêm giao thừa và đêm mồng một tết Mậu Thân  (30 và 31/01/1968), ta đồng loạt tiến công và nổi dậy trên toàn miền, đồng loạt tiến công địch ở khu 4 thành phố, 37 thị xã trong đó có thị xã Quảng Trị, đánh vào hầu hết cơ quan đầu não của địch. Nhân dân vùng nông thôn được sự giúp đỡ của lực lượng vũ trang cách mạng đã nổi dậy phá tan từng mảng hệ thống kìm kẹp của nguỵ quyền ở thôn, xã, thành lập chính quyền tự quản.

Ở Hải lăng, ta đã cắt đứt giao thông địch, làm tê liệt giao thông trên toàn quốc lộ I - đoạn từ thị xã Quảng Trị vào Phò Trạch trên một tuần lễ.

Ở Cam Lộ, Gio Linh, nhân dân đã đóng góp trên 1.000 cây tre, phi lao, cùng bộ đội dàn “ thế trận Bạch Đằng trên sông Hiếu” đánh chìm 3 tàu Mỹ, giết hàng chục tên Mỹ. Tuyến vận tải đường thuỷ Cửa Việt - Đông Hà - Thị xã Quảng Trị của Mỹ bị tắc nghẽn một thời gian gây cho Mỹ - nguỵ nhiều khó khăn trong việc chi viện cho mặt trận Khe Sanh.

Khe sanh là một vị trí có tầm quan trọng chiến lược của địch trên trục đường 9, nằm ở cửa ngõ phía đông của hành lang chi viện Bắc - Nam, nhằm ngăn chặc sự tiếp tế của miền Bắc cho miền Nam, đồng thời là bàn đạp cho cuộc hành quân trên bộ để cắt đứt đường Hồ Chí Minh.

Để đảm bảo nhu cầu hậu cần của chiến dịch trên 10.000 tấn hàng, Đảng uỷ và Bộ Tư lệnh 559 đã tổ chức riêng một binh trạm - Binh trạm 41 có khoảng 3.000 dân công vận chuyển gồm: đồng bào các dân tộc Hướng Hoá, cùng một số trung đoàn bộ binh và cao xạ ở Tà Khống và Bản Đông trên đường 9 để đặc trách mũi vận chuyển phục vụ mặt trận đường 9 - Khe Sanh.

    Cung vận chuyển này đã bám sát các đơn vị chiến đấu, phát triển từ Lao Bảo, tiếp cận sâu vào từ Khe Sanh.

    Từ ngày 26/6/1968 đế quốc Mỹ bắt đầu rút quân, đến ngày 09/7/1968, quân và dân ta chiếm cứ điểm Tà - Cơn và hoàn toàn giải phóng Khe Sanh, giải phóng Hướng Hoá, giải phóng đường 9, tạo cơ sở để phát triển tuyến vận tải đông, tây Trường Sơn và chuẩn bị xây dựng tuyến đường tiêu chuẩn xuyên Bắc - Nam đông Trường Sơn.

Thắng lợi của cuộc “Tổng tiến công và nổi dậy Mậu Thân 1968” trên toàn miền Nam, cùng với thắng lợi ở mặt trận đường 9 - Khe Sanh làm phá sản chiến lược “ chiến tranh cục bộ” làm lung lay tận gốc ý chí xâm lược của Mỹ, buộc  chúng phải xuống thang chiến tranh, chấm dứt đánh phá miền Bắc, chấp nhận ngồi vào bàn đàm phán với ta ở Pari để tìm giải pháp chính trị cho vấn đề miền Nam Việt Nam. Nhưng với ý đồ thực hiện giải pháp chính trị đó trên thế mạnh, hòng giữ miền Nam trong quỹ đạo chủ nghĩa thực dân mới, đế quốc Mỹ chuyển dần từ chiến lược chiến tranh cục bộ sang chiến lược “ Việt Nam hoá chiến tranh”. Chúng ra sức củng cố nguỵ quyền các cấp, tăng cường bộ máy kìm kẹp, đàn áp ở các đại phương, chuyển dần nhiệm vụ cai quản chính quyền cho nguỵ quyền , rút dần quân Mỹ về nước để tránh sa lầy thất bại và “ búa rìu” dư luận phản đối cuộc chiến tranh Mỹ xâm lược Việt Nam.

Sau Xuân Mậu Thân 1968 , Mỹ - nguỵ vội vã tăng quân, đưa thêm các loại phương tiện chiến tranh hiện đại, liên tiếp tiến hành các cuộc hành quân càn quét, khủng bố, “bình định”, lần lượt chiếm lại hầu hết vùng nông thôn đồng bằng được giải phóng.

Mỹ – nguỵ tập trung đánh phá dữ dội vùng giáp ranh, rải quân đóng chốt cao điểm: 367, Động ông Do... Hầu hết các tuyến đường ngang qua vùng giáp ranh lúc này đều bị khống chế, vận chuyển từ đồng bằng lên miền núi bị bế tắc. Việc mở dường cho các phương tiện vận tải cơ giới qua đất Trị Thiên từng giữ năm 1968 đến năm 1970 chững lại. Phần lớn cán bộ, lực lượng vận tải của Ban Kinh tế phải rút lên phía tây Hương Hoá, tổ chức các trại sản xuất lúa, màu tại các vùng A Vao, Tà Rụt, Lao Bảo..., đồng thời phát động nhân dân đẩy mạnh sản xuất, đóng góp lương thực( ngô, sắn, kê, củ chuối...) phục vụ kháng chiến. Cán bộ kinh tế có trách nhiệm tổ chức thu gom , tập hợp, vận chuyển kịp thời cung cấp cho lực lượng cán bộ, bộ đội bám trụ hoạt động, tổ chức đánh địch, chống càn, bảo vệ nhân dân, bảo vệ các khu căn cứ cách mạng.

Cũng trong năm 1969, 1970, Ban Kinh tế đã phối hợp với lực lượng quân đội làm đường cho ô tô từ đường 9 đi Sà Trầm, Ly Tôn, A Cho vào Tà Rụt....

Sau Mậu Thân (1968) tuyến vận tải 559 tập trung lực lượng vận chuyển hàng cho khu V, Nam Bộ, Campuchia. Việc tiếp tế cho mặt trận Trị - Thiên - Huế đồng chí Hoàng Anh - Bí thư Khu uỷ Trị - Thiên - Huế chủ trương hợp nhất lực  lượng  vận  tải  của Ban Kinh tế khu Trị - Thiên - Huế và lực lượng vận tải hậu cần của quân khu Trị - Thiên thành Tuyến vận tải Thống Nhất B (gọi tắt TNB) do đồng chí Nguyễn Hữu Phùng làm tuyến trưởng, hai đồng chí  Nguyễn Hữu Đến và Trần Viết Một làm tuyến phó, với lực lượng vận tải trên 3.000 người, trong đó có tiểu đoàn 70 TNXP Quảng Bình chi viện. Tuyến vận tải này được tổ chức 16 trạm, bằng phương tiện vận tải thô sơ kết hợp cơ giới.

Phạm vi hoạt động của Tuyến vận tải Thống Nhất B bắt đầu từ bờ nam sông Xê - Băng - Hiên vào Rừng Thông, Cò Bồi (trạm 46) dài 220km. Tuyến vận tải Thống Nhất B chia thành 16 trạm. Trách nhiệm của mỗi trạm vừa làm nhiệm vụ giao bưu, vận tải (mỗi một ngày đêm phải vận chuyển trên 3.000 tấn lương thực, hàng hoá từ trạm của mình đến trạm kế cận), vừa tổ chức sản xuất rau màu tự túc.

Ở mạn phía Bắc, tỉnh Quảng Bình phối hợp với tỉnh Thanh Hoá tổ chức Tuyến vận tải Thống Nhất A do đồng chí Lại Văn Ly (Phó chủ tịch UBND tỉnh Quảng Bình) làm Tuyến trưởng, hai đồng chí làm tuyến phó là: Nguyễn Dê (Chủ tịch UBND huyện Lệ Thuỷ) và Trương Thiết Trụ (Phó Trưởng ty Lương thực tỉnh Quảng Bình). Tuyến vận tải Thống Nhất A  với nhiệm vụ được giao là tiếp nhận số hàng hoá của Trung Ương đưa vào chiến trường Trị - Thiên - Huế. Tuyến vận tải Thống Nhất A  Từ Thạch Bàn - Làng Ho - Đèo Khỉ đến bờ bắc sông Xê - Băng - Hiên bằng các phương tiện vận tải: ô tô con, xe đạp thồ hoặc gùi cõng tuỳ theo chất lượng của từng chặng đường.

Ngoài lực lượng vận tải của Quảng Bình chi viện nói trên khu IV còn điều động 2.000 dân công xe đạp thồ của tỉnh Thanh Hoá, do đồng chí Hoàng Văn Hiền - Bí thư Tỉnh uỷ trực tiếp điều hàng vận tải chi viện cho Trị - Thiên - Huế.

Phán đoán đúng với dự kiến sớm về âm mưu của Mỹ - Nguỵ mở cuộc hành quân Lam Sơn 719 với lực lượng trên 2 vạn quân được trang bị vũ khí các loại phương tiện chiến tranh hiện đại, có sự yểm trợ đắc lực của không quân Mỹ, tiến công lớn ra đường 9 - Nam Lào hòng đánh chiếm Sê Pôn, phá tận gốc đường vận tải chiến lược Bắc - Nam của ta, Trung Ương Đảng đã chủ trương cho toàn quân, toàn dân  khẩn trương chuẩn bị mọi mặt để phối hợp, đối phó, đập tan ý đồ của địch muốn thử nghiệm công thức tiêu biểu của chiến lược“ Việt Nam hoá chiến tranh”: bộ binh nguỵ + hoả lực + hậu cần Mỹ.

Thực hiện chủ Trương của Trung ương Đảng: “ Lực lượng vũ trang của mặt trận Bắc Quảng Trị đánh mạnh vào các đường giao thông, tập kích sân bay, kho tàng, bến cảng, buộc Mỹ phải tăng thêm 2 lữ đoàn Mỹ và 3 tiểu đoàn pháo binh để giải toả. Giữa tháng 3/1971, bộ đội địa phương Quảng Trị phối hợp với các phân đội đặc công của quân khu IV đánh chìm 4 tàu, làm giao thông địch trên dòng sông từ Đông Hà đến Cửa Việt bị tắc nghẽn một thời gian”.

Phối hợp với mặt trận đường 9 - Nam Lào, được sự chỉ đạo của Trung ương, Tuyến vận tải Thống Nhất B đã tập trung sức lực phục vụ chiến dịch Trung Lào như vận tải lương thực, thực phẩm, súng đạn, vây đánh bắt biệt kích, bắn máy bay Mỹ...

Kết quả cuộc hành quân Lam Sơn 719 của Mỹ - nguỵ đã bị quân và dân hai nước Việt, Lào đánh bại 21.102 tên địch đã bị tiêu diệt và bắt sống.

Phát huy chiến thắng đường 9 - Nam Lào, trong các năm 1971, 1972, ngành Giao thông vận tải của Trị - Thiên - Huế tập trung lực lượng vận tải vừa phục vụ chiến đấu, vừa tiến hành xây dựng thêm kho tàng để kịp tiếp thu hàng chi viện của Trung ương; đồng thời phối hợp với các đơn vị bộ đội tu sửa, mở thêm các tuyến đường 70, 71, 72, 73, 14, 15N nhằm phục vụ giai đoạn cuối của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước.

Tháng 6/1971, Trung ương Đảng ra quyết định lập lại Tỉnh uỷ Quảng Trị. Để đối phó âm mưu địch, Hội nhị Tỉnh uỷ đề ra nhiệm vụ: “ Phải tích cực làm thay đổi tương quan lực lượng ở đồng bằng, tạo cho được địa bàn ở nông thôn... chuẩn bị khả năng cả 3 vùng cho xuân hè 1972”

Để đảm bảo thắng lợi cho cuộc tiến công chiến lược năm 1972, nhiệm vụ bảo đảm giao thông trên hành lang vận tải Bắc - Nam giữ vị trí quan trọng.

Được Ban Giao - Bưu khu Trị - Thiên - Huế bổ sung về một số cán bộ, Ban Giao - Bưu Quảng Trị được thành lập do đồng chí Nguyễn Trưng làm trưởng ban, đồng chí Quang Kiên làm phó ban.

Từ tháng 7/1971 trở đi, mạng lưới giao bưu trên địa bàn Quảng Trị ngày càng hoàn chỉnh, việc kết hợp giữa tỉnh với các huyện, thị chặt chẽ. Nhận rõ tình hình và nhiệm vụ mới, anh chị em cán bộ, công nhân viên ngành giao bưu đã phục vụ đắc lực cho sự lãnh đạo, chỉ đạo của các cấp uỷ Đảng, đặc biệt là phục vụ “Cuộc tiến công chiến lược năm 1972”.

Việc vận tải phục vụ chiến đấu từ cuối năm 1971 về sau do lực lượng vận tải bằng ô tô đảm nhiệm là chủ yếu. Lực lượng cán bộ và lực lượng vận tải của Ban Kinh tế khu được bố trí về hai tỉnh Quảng Trị, Thừa Thiên. Ở Quảng Trị tập trung xây dựng kho tàng, tổ chức lực lượng vận tải, tiếp nhận hàng hóa do Trung ương chi viện và khai thác lương thực, thực phẩm, hàng hoá tại chỗ phục vụ cuộc tiến công chiến lược năm 1972.

Ngày 01/5/1972, Quảng Trị hoàn toàn giải phóng, đánh dấu một mốc vẻ vang trong lịch sử chống ngoại xâm của tỉnh  nhà.

Quảng Trị là tỉnh đầu tiên của miền Nam được giải phóng. Đó là thắng lợi có ý nghĩa chiến lược cực kỳ quan trọng. Địa bàn Quảng Trị lúc này có vị trí chiến lược cả về chính trị, quân sự, ngoại giao....Trong lúc đó, về hạ tầng cơ sở, trước hết là hệ thống đường sá trải qua chiến tranh khốc liệt, tất cả điều bị tàn phá, hư hỏng nặng nề...

Đáp ứng yêu cầu đòi hỏi của chiến trường, thực hiện chủ trương của Ban Thống nhất Trung ương, ngày 08/5/1972, Bộ Giao thông Vận tải quyết định thành lập Ban GTVT đặc biệt. Đồng chí Hồ Văn Xinh (nguyên là Bí thư Đảng uỷ Cục Quản lý đường bộ) được Bộ trưởng Phan Trọng Tuệ giao nhiệm vụ chỉ huy Ban GTVT đặc biệt với bộ khung gồm 30 cán bộ và 3 đại đội TNXP nhận từ các tỉnh: Thanh Hoá, Hà Tĩnh, với nhiệm vụ vào Quảng Trị khôi phục xây dựng GTVT phục vụ dân sinh, kinh tế, quân sự, chính trị tại Quảng Trị - một tỉnh đầu tiên được giải phóng hoàn toàn ở miền Nam Việt Nam.

 
 

 

 

 

 

 

 

 

 

 


Bộ phận cán bộ cốt cán của Ban GTVT đặc biệt gồm các đồng chí: Xinh, Giai, Trạc, Hoà, Phụ, Hà, Khai, Yết...lên đường trước bằng hai chiếc xe con và đến Quảng Trị vào ngày 22/5/1972. Ban GTVT đặc biệt đóng tại Xóm Cau, thôn Hà Thượng - huyện Gio Linh chi viện 3 chiếc xe ban Giải phóng của Trung Quốc. Ba chiếc xe này được Ban sử dụng vào việc vận chuyển, khai thác vật liệu ở các căn cứ quân sự của Mỹ nguỵ trước đây như Quán Ngang, Dốc Miếu...đưa về khu căn cứ của tỉnh ở Tây Gio Linh để xây dựng, củng cố hầm hào trú ẩn cho các cơ quan của tỉnh và bệnh viện dã  chiến...

Sau khi ổn định nơi ăn ở, chỗ làm việc của Ban lãnh đạo, theo yêu cầu của tỉnh, Bộ GTVT quyết định Ban GTVT đặc biệt thực hiện chức năng nhiệm vụ của Ty GTVT - Bưu điện Quảng Trị, do đồng chí Hồ Văn Xinh - Uỷ viên Uỷ ban nhân dân cách mạng tỉnh làm Trưởng Ty và 3 Phó trưởng ty: Trần Công Khuyên phụ trách giao thông, Lê Văn Giai phụ trách vận tải, Đào Bá Nghĩa (Thọ) phụ trách bưu điện.

Thực trạng GTVT Quảng Trị lúc này qua khảo sát như sau:

- Đường 1: Từ Hiền Lương đến bắc cầu Mỹ Chánh: toàn bộ cầu công đều bị đánh sập. Đoạn đường Hiền Lương - Dốc Miếu: nền đường thấp và hẹp, so với trước 1945 chưa có gì thay đổi. Đoạn đường Dốc Miếu - Đông Hà: nền đường có mở rộng thêm, nhưng mặt đường chưa làm nhựa. Đoạn đường Đông Hà - Mỹ Chánh: nền đường được mở rộng và mặt đường được trải nhựa rộng 7m.

- Đường 9: Từ Đông Hà đến Lao Bảo: toàn bộ các cầu trên tuyến này điều bị đánh sập, xe ô tô phải đi đường tránh và ngầm. Trong đó, đoạn đường từ Đông Hà đến Km 26: nền đường được mở rộng, mặt đường bê tông nhựa rộng 7m, xe chỉ đi được từng đoạn ngắn vì có nhiều hố bom. Đoạn đường từ Km 26 đến Khe Sanh - Lao Bảo: nền đường nhỏ, mặt đường bị phá hoại hoàn toàn.

- Các tuyến đường thuộc hệ thống đường Hồ Chí Minh như: 14A, 15N, đường 42(Cam Lộ - Bến Tắt) nay gọi là đường 15, đường Lìa ( Hướng Hoá) chỉ có tăng và xe 3 cầu đi được.

- Các đường tỉnh khác như đường Hiền Lương - Xuân Mỵ, Hiền Lương - Cửa Tùng, Hiền Lương - Cợ Hôm, Chợ Cầu - Cồn Tiên, Hà Thanh - Nam Đông, Quán Ngang - Nam Đông, Quán Ngang - Mai Xá, đường 71 (Sòng - Cầu Đuồi), đường Vĩnh Thuỵ, đường Ái Tử - Trừ Lấu, đường thị xã Quảng Trị - Hải Lệ, đường 68 (Thị xã Quảng Trị - Ngô Xá..), đường Diên Sanh - Mỹ Thuỷ, đường Mỹ Chánh - Động Ông Do, đường Mỹ Chánh - Hải Tân v.v... phần lớn điều bị bom đạn làm hư hỏng nặng, phần còn lại xe không đi được, chỉ đi được từng đoạn ngắn nhưng cũng rất khó khăn.

- Về đường sông, có tuyến Cánh Hòm - Mai Xá nối sông Bến Hải với sông Thạch Hãn, nhưng tại Cánh Hòm có một đập đá do Mỹ- Diệm đắp trong năm 1958, vừa dùng cho quân sự, vừa ngăn sông Cánh Hòm không cho các phương tiện ghe, thuyền của ta chở hàng hoá, vũ khí từ Vĩnh Linh vào chiến trường Triệu Hải...

Những ngày cuối tháng 6/1972 trở đi, sau khi được Mỹ hứa tăng viện trợ, Tổng thống nguỵ quyền miền Nam Nguyễn Văn Thiệu quyết định mở cuộc hành quân tái chiếm Quảng Trị, cuộc hành quân này mang tên “ Lam Sơn 72”.

- Trước yêu cầu cấp bách phải bảo vệ quê hương vừa mới được giải phóng, Tỉnh uỷ Quảng Trị chủ trương cho toàn Đảng bộ, quân và dân trong tỉnh “ Kiên quyết phối hợp với bộ đội chủ lực đánh bại cuộc phản kích của địch” và đề ra biện pháp tập trung lực lượng giữ cho được thị xã Quảng Trị, nhanh chóng hình thành chiến tranh du kích phái sau lưng địch, tổ chức sơ tán dân (người già, phụ nữ, trẻ em) của hai huyện Hải Lăng, Triệu Phong và thị xã Quảng Trị ra các huyện Cam Lộ, Gio Linh, Vĩnh Linh và Lệ Thuỷ (Quảng Bình), tích cực phòng tránh, hạn chế thiệt hại...

Về phía địch, khi bắt đầu chiến dịch lấn chiếm, chúng tập trung cao độ các loại phi pháo, kể cả B52, pháo tăng tốc đánh phá dữ dội, trước hết là các tuyến đường bộ, đường sông suốt ngày đêm. Lúc này chỉ có xe quân sự của ta hoạt động trên tuyến đường Trường Sơn nên việc bảo đảm giao thông do lực lượng quân đội đảm nhiệm. Việc đưa nhân dân đi sơ tán do Ty Giao thông vận tải Quảng Trị đảm nhiệm.

Trước tình hình đó, một mặt ngành GTVT tỉnh tập trung sức lực cùng với các ngành đối  phó; mặt khác báo cáo thực trạng tình hình gai thông vận tải ở tỉnh lên Bộ, xin ý kiến của  Bộ về chủ trương kế hoạch và giải pháp thực hiện cho phù hợp với đặc điểm của chiến trường lúc đó.

+ Tập trung sức bảo đảm giao thông đường thuỷ bằng phương tiện thuyền máy, thuyền chèo tay của bộ đội và nhân dân từ Triệu - Hải khu vực Vĩnh Linh theo các sông: Thạch Hãn, Hiếu, Vĩnh Định, Cánh Hòm.

+ Tuyến quốc lộ 1: đoạn từ cầu Hiền Lương vào phía Nam Đông Hà, Ty bố trí một tổ xe vận tải gồm 3 chiếc để vận chuyển hàng hoá, vật tư... Địch phát hiện được tập trung phi pháo oanh tạc. Ta không đủ sức giữ tuyến quốc lộ 1. Khoảng 5 vạn dân ở phía Nam tỉnh phải sơ tán được dẫn đi theo đường bộ, đường sông...

+ Xin  Bộ bổ sung kinh phí để đóng 32 thuyền gỗ (mỗi chiếc có trọng tải từ 2 đến 5 tấn) có gắn máy để chủ động trong vận chuyển. Tổ chức đưa gấp đại đội TNXP của tỉnh Thanh Hoá vào bám chốt, bảo đảm phục vụ giao thông đường thuỷ. Trước mắt tổ chức một cơ sở đóng thuyền và lắp máy thuyền ở xã Vĩnh Long - Vĩnh Linh do đồng chí Hương (cán bộ trung cấp cơ khí) phụ trách. Máy đẩy: đi mua lại của nhân dân hoặc đi thu nhặt máy hỏng  đưa về sửa chữa. Tuyển thêm 30 nam thanh niên biết lái thuyền máy. Nhờ vậy, đến quý 3/1972 lập được đội thuyền và chở được hàng trăm tấn gạo từ Vĩnh Linh vào vùng phía Nam giới tuyến 17.

Cán bộ công nhân viên Ty Giao thông đã tập trung san lấp hố bom, hố pháo, sửa đường, làm cầu, tổ chức các chuyến đò ngang qua sông Hiếu, sông Bến Hải... bảo đảm đi lại cho các đoàn dân công, TNXP gánh gồng, gùi cõng vũ khí, lương thực, thực phẩm kịp thời cung cấp cho mặt trận và đưa thương binh từ tiền tuyến trở về hậu phương, hết đợt này đến đợt khác...Tổ chức nạo vết, rà phá bom từ trường, bom nổ chậm trên các tuyến sông, chủ yếu là tuyến sông Cánh Hòm - Mai Xá. Phối hợp với bộ đội đưa tăng, đưa pháo ra phía trước, sẵn sàng chống trả các đợt phản kích của Mỹ - nguỵ.

Quán triệt chỉ  thị của Bộ chính trị Trung ương Đảng và ý nghĩa cuộc chiến đấu chống địch phản kích tái chiếm thị xã Quảng Trị trong Hè - Thu - Đông Năm 1972 là trận quyết chiến có “ Tầm quan trọng lớn về chính trị và chiến lược”, Cán bộ công nhân viên ngành GTVT - Bưu điện tỉnh đã nêu cao quyết tâm phục vụ kháng chiến bằng các tuyến đường giao thông vận tải, bằng những phương tiện chuyên chở... góp phần với quân và dân ta trên mặt trận Quảng Trị vượt qua hy sinh, thử thách lớn chưa từng có, kiên cường giữ vững địa bàn thị xã Quãng Trị trong suốt 81 ngày đêm.

Cuộc chiến đấu vô cùng anh dũng đó đã góp phần quan trọng cho việc thực hiện yêu cầu nhiệm vụ quân sự, chính trị và đấu tranh ngoại giao của ta tại Hội nghị Pari, kìm giữ dài ngày lực lượng cơ động chiến lược của địch, tạo điều  kiện cho các chiến trường khác hoạt động; đồng thời đã tạo được thế trận phòng ngự của ta ổn định trong thời gian tiếp sau để đánh bại các đợt tiến công mới của địch, giữ vững được đại bộ phận vùng giải phóng thị xã Quảng Trị cho đến ngày buộc Mỹ - nguỵ phải ký Hiệp định Pari (27/01/1973).




1 Bộ Giao thông vận tải và Bưu điện do đồng chí Nguyễn Văn Trân làm Bộ trưởng. Bộ gồm các ngành Vận tải Đường sắt, Đường thuỷ, Đường bộ và Bưu điện.

1 Lịch sử Đảng bộ và nhân dân Vĩnh Linh, sđd, trang 149.

1, 2 Lịch sử Giao thông vận tải Việt Nam, sđđ, trang 296,297

 

1 Hồ chí Minh - Tuyển tập, tập 2, NXB Sự thật, Hà Nội 1980, trang 311

[1] Cây nhiệt đới cấu tạo theo hình trụ dài, phía trên có 3 lá kim loại mỏng gắn vào hình trụ, cách nhau 1200. Thiết bị này khi địch thả xuống thì một đầu găm vào đất, còn đầu kia có 3 lá kim loại (ăng ten) thu tín hiệu tiếng động (động cơ ôtô, tiếng người nói đang đi qua...). Địch ở căn cứ biết tại vị trí đó đang có hoạt động của ta. Chúng xác định toạ độ và cho máy bay đến oanh tạc...

1 Hồ Chí Minh - Toàn tập - NXB Sự thật, Hà Nội 1989, trang 10, 732

1 Tổng kết cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, NXB CTQG, 1996, trang 87, 88.

 

[2] Lịch sử GTVT Quảng Bình, NXB GTVT, 1999, trang 228.

1 Lịch sử GTVT Quảng Bình, NXBGTVT 1999, trang 228.

1 Theo đề nghị của Thượng tá Võ Bẩm và được Bộ Tham mưu, lực lượng quân đội nhân dân Việt Nam nhất trí là lấy tháng và năm của Quyết định mở đường làm ký hiệu của đơn vị. Đoàn 559 (ta cũng thường gọi đường 559) ra đời ngày 19/5/1959.

2 Lược theo lịch sử Giao thông vận tải Việt Nam, sđd, trang 474.

1 Trích báo Cứu nước ra tháng 3/1965

1 Trong đó có một số cán bộ, nhân dân vận tải do Ban Giao - Bưu - Vận (cũ) chuyển qua, lực lượng TNXP ở các huyện, thị được điều động lên Ban, lực lượng TNXP của khu vực Vĩnh Linh, tỉnh Quảng bình vào làm nhiệm vụ ngắn hạn, sau khi hết hạn, họ tình nguyện ở lại làm nhiệm vụ dài hạn ở chiến trường Trị - Thiên.

 

1 Trích Nghị quyết Thường trực Quân uỷ Trung ương tháng 6/1966

1 Theo tư liệu của đồng chí Hùg Sơn cung cấp, Ban kinh tế khu được thành lập vào tháng 6/1966

1 Lịch sử phong trào công nhân và Công đoàn Quảng Trị, sđd, trang 177

Thông báo

Video

  • Thông điệp về An toàn giao thông

    Thắt dây an toàn đúng cách

    Đội mũ bảo hiểm khi tham gia giao thông

    Hướng dẫn mũ bảo hiểm

    Thắt dây an toàn khi lái xe

  • Liên kết Website

    Liên kết khác

    Thống kê lượt truy cập

    Đang online : 35
    Tổng truy cập : 253,034